Bài ca trên núi

BÀI CA TRÊN NÚI

*
Ớ...
Đầu trời có sao chiều sao sớm
Đầu núi kia có (ơ) hai người...
Dù đi cùng trời dù đi khắp núi
Trời chỉ có, chỉ có sao sớm sao chiều
Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau.
* *
Ơ...
Rừng chiều có tiếng khèn ai đó
Khèn hát lên những lời mong chờ
Đường đi về rừng đường đi xuống núi
Trời chỉ có, chỉ có sao sớm sao chiều
Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau.

Bình luận (114)

  1. Lão Nông

    Có một thông tin nóng hổi, thú vị đến với các bác đây.

    Trong phần chia sẻ ở đây, các bác có nhắc đến nghệ sĩ sáo huyền thoại Phùng Tử Tồn cùng vụ đắm thuyền thảm khốc của đoàn Nghệ thuật Trung Quốc trên Hồ Tây khi sang Hà Nội biểu diễn cuối những năm 50. Không biết cụ Phùng Tử Tồn có may mắn thoát nạn như tài liệu mà Hxdoan cung cấp không nhưng "di sản" mà cụ để lại tại Đài TNVN là có thật, các bác ạ. VOV hiện còn lưu giữ 2 bản hòa tấu sáo của cụ Phùng Tử Tồn trong đợt biểu diễn ấy. Đó là Qua cầu gió bay và Se chỉ luồn kim, 2 bài dân ca Quan họ trứ danh của mình. Tôi tin là, với những lời đồn ngợi ca tiếng sáo của cụ, 2 bản trình tấu này phải rất mê hồn (chúng ta đã chứng kiến sự sáng tạo, nhập hồn của các nghệ sĩ TQ trong Xuân chiến khu (Xuân Hồng) mà tôi mới gửi tặng các bác rồi nên tôi không nghi ngờ gì điều này đâu). Tôi nhớ lại, trong bộ phim về đoàn nghệ thuật Việt Nam đi biểu diễn 3 nước Pháp , Ý và Algeria năm 1969 bên lề Hội nghị Paris về Việt Nam, như đã kể với các bác hơn 1 lần, có một cảnh nhân dân ở một thành phố của Pháp tiễn đoàn tại ga tàu hỏa (để đoàn đi tiếp sang Ý) rất cảm động, những giọt nước mắt của những người mới quen đã chia xa trên khóe mắt mấy bà, mấy chị và đúng lúc đó tiếng sáo của Đinh Thìn cùng dàn nhạc hòa tấu Qua cầu gió bay nổi lên làm nhạc nền, cảm xúc lắm. Tôi xem/nghe mà nghẹn ngào vì sao đạo diễn khéo chọn cảnh, chọn nhạc hợp đến thế. Tiếng sáo réo rắt ấy cứ theo tôi hơn 40 năm rồi. Khát mong được nghe lại Xa khơi do Thanh Huyền hát trên sóng nước thành Venice và tiếng sáo Đinh Thìn trong Qua cầu gió bay trong bộ phim tuyệt vời ấy dù chỉ một lần thôi mà sao thấy như vô vọng, các bác ạ…

    Rất mong BTV phụ trách chương trình Nhạc không lời của VOV, nếu có ghé đây, đọc được nguyện vọng này thì dón tay làm phúc, mở lòng từ bi phát sóng Se chỉ luồn kim và Qua cầu gió bay do nghệ sĩ Phùng Tử Tồn thể hiện nhé. Xin cảm ơn.

    Cũng rất mong bạn rockhangthan, người dường như là duy nhất trên mấy diễn đàn hiện còn đam mê và chịu khó nghe, cập nhật các bản thu của VOV, nếu may mắn thu được 2 bản trình tấu trên thì chia sẻ ngay với bà con nhé. Cảm ơn bạn trước.

    T/B: Bạn Hxdoan ơi, cảm ơn nhiều nhé. Tôi đã đọc các tài liệu mà bạn cung cấp. Rất chi tiết và thuyết phục. Tôi tin là bác Xuân Ba , một nghệ sĩ đàn Nguyệt có tiếng của CMNDTU, bạn của bác Ngọc Thạch cũng sẽ trả lời bác ấy như vậy khi tới thăm. Chúng ta cùng chờ thông tin từ bác Ngọc Thạch nhé.

  2. Ngọc Thạch

    Cảm ơn bác Hxdoan. Tài liệu bác tìm được rất chi tiết. Như vậy là chúng ta đã hiểu và thống nhất được với nhau về nguồn gốc mấy cây đàn Nguyễn, Nguyệt, Tứ. Tôi nghĩ có thể đóng chủ đề này lại ở đây để các thành viên nghe nhạc và đi chơi những ngày nghỉ lễ. Bao giờ có vấn đề gì cần trao đổi xin mời các bác tra cứu sách đông tây kim cổ để bàn luận cho ra chân lý. Xin cảm ơn.

  3. Hxdoan

    Chào 2 bác ạ, quả thực là tài liệu mênh mông bể sở quá. Từ khi đọc câu gợi ý của bác Ngọc Thạch rằng: Những cây đàn đã cải tiến về sau này mà cứ nhất quyết gọi theo tên cũ thì có khi không chính xác khiến em dù bận cũng bớt chút thời gian tìm hiểu thêm chút nữa, dựa theo 3 bài viết của giáo sư Trần Văn Khê bác Ngọc Thạch trích và tài liệu TQ. Sau khi tìm hiểu thêm về cây đàn trong bảo tàng Chính Thương Viện của Nhật thì thời kỳ thịnh hành của nó người dân bên đó gọi với tên đủ là đàn Nguyễn Hàm chứ không phải Nguyễn ạ. Cây đàn này hoá ra còn một cái tên phụ khác chính là đàn nguyệt (tuy nhiên không phải tên chính thức của nó, vậy đàn Nguyễn chính gọi là đàn nguyệt 4 dây trong sách xưa). Cây đàn trong bảo tàng là thời kỳ đỉnh thịnh của nó vào đời nhà Đường, một thời gian sau đó nó vẫn giữ được vị thế độc tấu trong dàn nhạc xưa. Dần dà, đến trước thời nhà Thanh một chút có thể do đàn Tranh và Tỳ bà ngày càng phát triển và thống lĩnh nên loại đàn Nguyễn Hàm được cải tạo lên 5 dây và được gọi với tên đàn Nguyễn (không có chữ Hàm nữa).

    Nhưng vào đời nhà Thanh, bỗng nhiên loại đàn này suy thoái một cách lạ kỳ và người ta bỗng không thấy bóng dáng của nó xuất hiện nữa! Nó dần thoái hoá xuống 2 dây, cần đàn co ngắn lại và dần thành loại đàn Nguyệt cổ ngắn của Trung Quốc ngày nay (rất giống đàn tứ cổ rất ngắn của ta). Đàn Nguyệt Trung Quốc có 2, 3 và 4 dây được các dân tộc khác chơi là chính, người Hán thường ít dùng. Ngoài ra ở Đài Loan cũng có đàn Nguyệt 2 dây hơi giống của ta. Và đàn Nguyễn Hàm đã hầu như thất truyền coi như không được lưu truyền nữa và còn 1 chiếc trong bảo tàng của Nhật. Như vậy, đàn Nguyệt của TQ và Đài Loan là hậu duệ đàn Nguyễn Hàm.

    Các bác tham khảo hộ em ở đây ạ:

    http://nhom1gdcd1.dudaone.com/newpage5

    Theo giáo sư Khê thì đàn Nguyệt của ta cũng là hậu duệ của đàn Nguyễn Hàm (tức dựa trên ý tưởng). Vào Việt Nam cải tạo theo thẩm âm người Việt, vậy ta đã yên tâm. Các loại đàn Nguyệt xưa nay đều có gốc từ đàn Nguyễn Hàm. Khía cạnh khác sách của ông Phạm Đình Hổ lại cho rằng đàn Nguyệt xuất hiện ở ta vào TK18.

    Ở TQ, vào khoảng những năm 30-40 TK20, một phái đoàn nghiên cứu nhạc cụ của Trung Quốc đã sang bảo tàng Chính Thương Viện của Nhật để chụp ảnh và lấy mẫu cây đàn đó về để phục chế. Họ đã chế tạo ra một cây đàn y hệt cây đàn trong bảo tàng bằng gỗ tang mộc, tuy nhiên vì không còn đặc sắc trong thời hiện đại nên người TQ đã quyết định cải tiến mạnh mẽ hơn thành 1 tổ hợp đàn Nguyễn gồm Đại, Trung, Tiểu và cao âm Nguyến (nhỏ hơn tiểu Nguyễn) và đàn Nguyễn đã lấy lại được vị thế của nó trong diễn tấu hay độc tấu và không bị thất thế trước Tranh và Tỳ Bà như năm xưa nữa:

    Ngoài ra họ còn chế tác ra đàn Nguyễn kéo, cũng có 2 loại trung và trầm để thay thế cello và contrabass như Cách Hồ và Cách Hồ trầm. Như vậy, người TQ họ đã dân tộc hoá cello và contrabass bằng 2 loại đàn là Nguyễn kéo và Cách Hồ (với nhiều kiểu dáng).

    đàn Nguyễn kéo:

    đàn Cách Hồ:

    Ngoài ra còn có:

    Đại Mã đầu cầm:

    Đàn Tỳ Bà kéo:

    Hay còn đàn chân trâu, đàn bán nguyệt kéo...

    Tuy nhiên, nói chung các loại đàn dân tộc hoá này có đặc diểm dựa trên đàn kéo phương Tây. Nhưng về âm lượng và âm sắc thì chưa được mãn nguyện như cello và contrabass, double bass nên trong các dàn nhạc dân tộc họ vẫn thường tá dụng 2 loại đàn phương Tây này

    Vậy, tổ hợp Nguyễn này là hậu duệ của đàn Nguyễn Hàm và gọi tắt là Nguyễn. Họ quyết định đặt là Nguyễn vì để tưởng nhớ ông và cũng là ý tưởng cải tiến dựa trên cây đàn Nguyễn Hàm đời Đường.

    Về cây đàn tứ xin 2 bác cùng em tham khảo ở đây a:

    https://dotchuoinon.com/2015/06/11/nhac-cu-co-truyen-vn-dan-tudoan/

    Ở trang này có giới thiệu về đàn tứ đoản của ta, nhưng ở dưới các video đầu tiên đều lấy ví dụ về cây đàn Nguyệt hiện đại của TQ trông rất giống đàn tứ cổ ngắn của ta, và đàn tứ cổ ngắn này xuất hiện trước loại đàn tứ cần dài của ta.

    Đàn tứ cần dài: Mời 2 bác xem đoạn tiếng Anh:

    https://en.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0n_t%E1%BB%A9

    Có nói rằng đàn tứ cần dài loại hộp thùng vuông khá giống với đàn Trung Nguyễn (zhong ruan) của TQ và được cải tiến ở Việt Nam chỉ khoảng những năm 60, tức là sau khi tổ hợp đàn Nguyễn của TQ ra đời vào những năm 30-40. Ngoài ra loại đàn tứ cần dài hộp tròn như hôm trước trong clip em giới thiệu có cần đàn như đàn tứ thùng vuông và đều có 18 phím. Tỏ hợp đàn Nguyễn của TQ thì đều có 24 phím.

    Ngoài ra ta còn loại đàn tứ cải tiến lên 5 dây, tạm gọi là đàn Ngũ, cũng 18 phím:

    Vì vậy, đàn tứ cổ ngắn của ta khá giống đàn Nguyệt hiện đại của TQ (xuất xứ thời nhà Thanh) và đàn tứ cổ ngắn ra đời cũng muộn. Bên đó đàn nguyệt cũng có loại hộp hình bát giác đều giống đàn Sến của người Nam nhưng cần cũng ngắn hơn.

    Đàn tứ cổ dài 18 phím (hộp tròn, thùng vuông) của ta chỉ là cải biên vào những năm 1960 tức là khá muộn sau này.

    Vì vậy, em xin kêt luận các loại đàn trong dàn nhạc dân tộc của ta, trừ đàn bầu và trống thì đa số được học hỏi nhiều từ TQ và ngược lại. Nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân cũng cho rằng cây đàn Nhị Hồ có bầu thiết diện lục giác đều cũng là du nhập loại đã cải tiến của TQ.

    Ngoài ra họ còn loại đàn Tần cầm khá giống Nguyễn Hàm nhưng gốc là do loại trống cơm cổ có dây biến hoá thành

    Do vậy, những loại đàn bầu tròn như đàn Nguyệt, Nguyễn hay Tứ đều là ý tưởng từ nhau thôi ạ, đàn nguyệt vốn gốc là Nguyễn Hàm, đàn tứ ở ta ra đời sau đàn Nguyệt trông cũng giống đàn Nguyệt của TQ và đàn Nguyễn cải tiến của họ trông cũng khá giống với đàn tứ cổ dài 18 phím của ta ra đời 1960. Vì thế, có thể kết luận rằng đàn Nguyệt và đàn Tứ đều có gốc từ cây Nguyễn Hàm ấy mà ra ạ. Cũng như đàn Nguyệt và Nguyễn của họ ngày nay. Và cây đàn Nguyễn Hàm trong bảo tàng ngày nay đã "tuyệt chủng" ở TQ thậm chí trong quá khứ nó cũng không được chơi ở VN mà khi du nhập ta đã cải tiến ngay rồi.

    Em xin chụp lại ảnh từ clip dàn nhạc dân tộc hôm nọ:

    Có thể thấy cây đàn nhạc công nam dang chơi không giống đàn tứ thùng cần dài của ta với 18 phím (cả đàn vuông và đàn mà nghệ sỹ Đinh Linh chơi đều 18 phím) mà rất giống đàn Nguyễn (zhongruan) hiện đại của TQ, với số phím rút từ 24 xuống còn 22 phím

    Cuối cùng, theo em đàn Nguyễn Hàm đã "tuyệt chủng" cả ở TQ và VN do khách quan và ngày nay chỉ còn lại những hậu duệ của nó với những cái tên khác nhau mà thôi.

    Em xin khép lại chủ đề nhạc cụ ở đây ạ, để các bác tĩnh dưỡng cho kỳ nghỉ lễ cũng như chuyến du lịch âm nhạc sang tháng tiếp theo hi hi hi.

    Cảm ơn và chào 2 bác.

  4. Ngọc Thạch

    Vâng, được bác Lão Nông "giao nhiệm vụ" tôi sẽ cố gắng hỏi nhưng với tôi cũng hơi khó vì ít quen biết các nhạc công đàn dân tộc, tôi chỉ quen mỗi ông Xuân Ba, bao giờ gặp tôi sẽ hỏi. Tiện đây xin bổ sung: nghệ sĩ đàn nhị Thế Dân mà bác đề cập là em ruột NSND Thiếu Hoa, chỉ huy Đoàn hợp xướng Hanoi Harmony của bọn tôi. Hai ông được phong NSND một đợt, năm ngoái về Nga Sơn – Thanh Hóa vinh quy bái tổ được dân làng chào đón rất long trọng. Chào bác.

  5. Lão Nông

    Chào các bác,

    @Bác Ngọc Thạch và bạn Hxdoan ơi, tôi nghĩ là đàn Nguyễn đã "tuyệt chủng" ở Việt Nam thật rồi vì tôi cũng là người hay tò mò và xem trình diễn các nhạc cụ dân tộc của mình từ nhỏ mà chưa một lần nghe ai nói về thứ nhạc cụ này cả. Và, điều quan trọng là một khi một người nghiên cứu sâu có tầm vóc như GS Trần Văn Khê đã phát biểu như vậy thì chắc không có gì phải lăn tăn nữa. Còn việc liệu các loại đàn Nguyệt, đàn Tứ có phải là dạng biến thể của đàn Nguyễn không thì chắc lại phải nhờ đến tài ngoại giao của bác Ngọc Thạch rồi. Nếu có thể, (không gấp đâu, bác nhé) khi nào tiếp xúc được với các bác nghệ sĩ đàn dân tộc cùng thế hệ với bác Bảo Thắng ở đoàn CMNDTW xưa, bác thử "thẽ thọt" nhỏ to, có khi các bác ấy biết rõ đấy. Lớp người ấy thâm thúy, hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ lắm, các bác ạ. Vậy là chỉ còn trông mong vào may rủi thôi…

    Khi xem clip dàn nhạc dân tộc Việt Nam trên YouTube mà bạn Hxdoan dẫn link tôi lại nhớ đến chút kỷ niệm. Trước hết, tôi thấy hơi buồn khi vị GĐ HVANQGVN phát biểu rằng đây là dàn nhạc dân tộc qui mô duy nhất của VN bây giờ. Vậy là thời mà đoàn văn công nào (kể cả văn công quân khu, văn công tỉnh) cũng có dàn nhạc dân tộc, hoặc chí ít là nhóm nhạc dân tộc mà trong đó bề thế và hay nhất phải kể đến là dàn nhạc dân tộc đoàn CMNDTU, CNDTTU, ca múa Hà Nội, Đài TNVN….đã qua rồi. Những năm 80, 90, do khó khăn kinh tế cũng như xu hướng âm nhạc ngoại lấn át đã khiến những dàn nhạc một thời ấy dần bị giải thể. Dàn nhạc mới thành lập này trông rất bề thế, nhạc công trẻ trung, chơi cũng rất hay. Nhưng tôi thấy họ vẫn phải biên chế khá nhiều cello và thậm chí cả contrabass nữa. Vẫn biết là nhạc cụ dân tộc của mình không có loại nào thay thế được 2 nhạc cụ đó cho bè trung, trầm, tạo độ dày trong hòa âm (như các loại đàn Cách Hồ của TQ mà bạn Hxdoan nói) cũng ít nhiều cảm thấy "xót" về cái độ "thuần" dàn nhạc nước mình. Các nhạc công đa phần là còn rất trẻ, lạ nhưng tôi vẫn thấy thấp thoáng mấy gương mặt cũ còn sót lại mà tôi có dịp tiếp xúc trong chuyến "ngao du" thập niên 80 đã kể với các bác. Đó là Tiến Vượng (đứng trong tốp 5 người thổi sáo của dàn nhạc này), anh ấy có tính tình rất cởi mở, thân thiện, thuộc lớp kế tiếp tài năng của những Đinh Thìn, Ngọc Phan. Rồi, anh Thế Dân chơi đàn nhị một bài hòa tấu của TQ trong dàn nhạc này, thuộc lớp tiếp nối của đàn anh Thao Giang. Anh này là đức lang quân của ca sĩ Kim Phúc mà chúng ta mến mộ với Một mùa xuân (Trần Hoàn) mà chưa ai hát vượt qua được. Tôi nhớ mãi hình ảnh vui vui của anh này đi "thu mua" bột cacao của các thành viên trong đoàn mua được trong chuyến đi khi đã về đến Hà Nội để "làm kinh tế" (tức là khuân ra Hàng Ngang, Hàng Đào "luộc" lại). Chả là, hồi đó "đói" lắm, bột cacao là thứ hàng xa xỉ, khó kiếm, chỉ dân đi Tây vác về, khá đắt, nhà giàu mới dám uống….Như tôi đã chia sẻ, hầu hết các nghệ sĩ đàn dân tộc tham gia chuyến đi ấy như Mai Phương (Tỳ bà), Phương Bảo (Thập lục), Tiến Vượng (Sáo), Thế Dân (Nhị),… sau này đều trở thành những cánh chim đầu đàn của bộ môn đàn mà họ theo đuổi.

    Nhìn anh Phạm Ngọc Khôi (trong clip) chỉ huy dàn nhạc dân tộc bản Nông thôn đổi mới của Tạ Phước – Tô Vũ (bản này VOV phát sóng gần như hàng ngày trong buổi phát thanh Nông thôn tầm 11 h trưa, hồi tôi còn nhỏ, bây giờ nghe lại thấy hay quá) tôi hơi ngạc nhiên vì ít có nhạc trưởng nhạc cổ điển ở xứ mình lại kiêm luôn chỉ huy dàn nhạc dân tộc (chắc là có những quy tắc chung trong chỉ huy dàn nhạc nhưng phải am tường các nhạc cụ dân tộc đến cỡ nào thì mới dám cầm đũa) lại vừa nhớ tới một kỉ niệm hơn 20 năm trước. Đó là một dịp ở thủ đô Băng Cốc (Thái Lan), anh Ngọc Khôi "lọ mọ" ôm cái đàn organ theo đệm cho một nhóm ca sĩ Việt Nam sang đó biểu diễn cho cộng đồng người Việt. Trong nhóm đó có Thúy Hà, Minh Huyền, Minh Đức (anh Đức "Bột" của Ca Múa Hà Nội, không phải Dương Minh Đức của Quân Đội) và mấy ca sĩ khác. Lúc đó, tôi không hề biết anh Ngọc Khôi đang theo học piano và chỉ huy dàn nhạc tại NVHN và là con trai của nhạc sĩ tôi rất ngưỡng mộ Phạm Đình Sáu mà chỉ nghĩ đó là một nhạc công bình thường (một chương trình kiểu du kích, chất lượng không cao, không tập kỹ, đi đánh lẻ như vậy thì không thể hiện được khả năng lắm). Phải đến sau này, khi Ngọc Khôi đệm piano cho Lê Dung hát Bài ca Hy vọng (Văn Ký) và một số chương trình khác tôi mới thấy và nể phục ngón đàn của anh. Năm ấy, giọng Thúy Hà vẫn còn ác liệt lắm, hát Bài ca Hy vọng vẫn ở tone cao chuẩn và đầy nội lực, bà con Việt Kiều nghe cứ gọi là thích mê tơi nhưng chỉ dăm năm sau, tôi thấy chị hát live trên VTV, giọng đã xuống rất nhiều, chênh, phô tùm lum hết, buồn quá. Đấy, các giọng soprano qua đỉnh là xuống dốc không phanh, tã nhanh lắm, kể cả Thanh Huyền, Bích Liên cũng vậy, tôi đã từng nghe họ hát thời đã qua tuổi 50 và kể với các bác rồi, ngậm ngùi lắm, các bác ạ. Sở dĩ có vài ca sĩ như Thu Hiền, Quỳnh Liên (chuyên nghiệp), dũ đã qua thời xuân sắc, qua đỉnh dốc lâu lắm rồi mà đến gần đây vẫn còn "hát" và ra CD kiếm tiền được là vì họ chuyển xuống hát giọng ngực do giời cho khả năng hát giọng ngực tốt (không phải ca sĩ nữ nào cũng có khả năng đó). Thực ra 2 giọng này, cũng như giọng Thanh Hoa, là giọng mezzo soprano (nữ trung cao) thôi chứ không phải là soprano như có bạn trên diễn đàn lầm tưởng trong một trao đổi gần đây (theo phân loại giọng cổ điển trong từ điển Larousse mà bác Ngọc Thạch đã có lần trích dẫn). Như Thu Hiền thời trẻ, sung sức hát lên cao nhất cũng chỉ tới nốt Fa# thôi. Nên, bác Đặng Dũng không cần "bắt" các chị ấy bây giờ phải hát chót vót dư thời thanh xuân nhé. Giờ đây các chị ấy chỉ cần hát tiết tấu đều đều, thâm thấp, trong khoảng âm hẹp, vừa nhàn nhã, đỡ tốn calo lại hợp lỗ tai, hợp khẩu vị của một lớp thính giả nào đó….

    @Bác Trường Sanh ơi, thấy bác "vắng" lâu quá, tôi thấy hơi lo lo. Biết bác vẫn khỏe mạnh và "âm thầm" dõi theo trang nhạc là vui rồi. Cảm ơn ý kiến rất mộc mạc của bác, nó minh chứng thêm cho sự đa dạng trong cách cảm nhận của mỗi người, ngay cả trên một diễn đàn nho nhỏ như diễn đàn này. Mong gặp bác thường xuyên hơn trên diễn đàn, bác nhé.