Cầu Hàm Rồng sông Mã - Thanh Hóa

 

Cầu Hàm Rồng

Là người đa tài, ở lĩnh vực nào Nhạc sỹ Lê Xuân Thọ cũng có ít nhiều thành công, tuy nhiên, ông thích mọi người biết đến mình ở góc độ là một nhạc sỹ. Là hội viên Hội Nhạc sỹ Việt Nam, từng đạt nhiều giải thưởng cao trong các cuộc thi sáng tác, đến nay ông có trên 600 ca khúc nhưng có lẽ ca khúc được nhiều người biết tới nhất và yêu thích nhất là bài hát Mẹ yêu không nào (hay Con cò bé bé).            Mùa thu năm 1966, anh kỹ sư cầu đường Lê Xuân Thọ có những lần từ Hà Nội vào công tác ở đoạn đường sắt Thanh Hóa - Nghệ An. Cảm xúc trào dâng sau mỗi lần qua sông Mã và chứng kiến nhiều sự dũng cảm của đồng đội đang bám trụ để bảo đảm giao thông thông suốt, anh đã sáng tác bài hát “Nhịp cầu sông Mã” có nét nhạc cao trào ngay khi vào bài: “Sông Mã ơi, đôi bờ ôm bóng núi, núi Ngọc, núi Rồng xanh biếc chân mây. Còn nhớ chăng cả một mùa nắng cháy, nắng tháng 5 vang tiếng hát lao cầu...”, rồi sau gợi nhớ thời xây dựng, nhịp hát chắc khỏe hơn cùng..., “Ta đánh Mỹ cho dòng sông rộn tiếng hò khoan, quê Bác ngày đêm trăm chuyến xe vào”. Và bài hát do nghệ sĩ Nhân dân Trung Kiên thể hiện đầu tiên rất truyền cảm sâu lắng. Năm tháng đã trôi qua nhưng cùng với nhiều tác phẩm văn học- nghệ thuật phản ánh cuộc kháng chiến chống Mỹ còn đủ tầm vượt sức với thời gian, các sáng tác về cầu và con người Hàm Rồng còn mãi âm vang.

Những Anh hùng bảo vệ cầu Hàm Rồng

Ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965, Hàm Rồng đã đi vào lịch sử hào hùng cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Mới vừa hôm qua nhịp cầu có mố cầu cắm sâu vào lòng sông Mã với bao câu chuyện và sự tích thần kỳ. Về nhịp cầu treo đã ngã xuống, tiêu thổ kháng chiến ngăn chặn không cho quân Pháp tràn ra vùng tự do. Về cầu Hàm Rồng với bao kíp người, trèo lên đông cầu chốt, với chín mươi chín người rơi xuống dòng sông Mã. Tất cả những sự tích huyền thoại Hàm Rồng như đang sống lại. Hàm Rồng đã nổi lửa, hai triền sông Mã nổi giận. Không phải huyền thoại, cổ tích mà người Hàm Rồng đã quật ngã “Thần sấm”, “Con Ma” và “Giặc nhà trời”. Nhiều lúc ta muốn đi tìm xem ai là người đầu tiên nổ phát súng vào máy bay giặc Mỹ. Để từ đó khúc ca chiến thắng bật lên, nối tiếp nhau hơn ba ngàn ngày, với khẩu hiệu: “Bám pháo giữ cầu”. Từ Lèn, hai bên đầu cầu tiếng súng dội về và chiến công của người Đò Lèn đã mở màn cho sự thử thách của số phận cầu Hàm Rồng. Giặc Mỹ muốn kéo giãn lực lượng của ta ra và cô lập không cho chi viện cho Hàm Rồng. Lèn, hy sinh thân mình cho Hàm Rồng vang lên khúc huyền ca chiến thắng. Từ trận địa bãi ngô bên cầu Tào, pháo của ta khai hỏa. Trên Lưng  Rồng, Bãi Sỏi, đồi Không Tên, Lều Vịt, Đình Hương, trên đỉnh núi Ngọc tổ trung liên được lệnh khai hỏa... Tiếp theo là trận địa trực chiến Nam Ngạn, súng của tự vệ Nhà máy Điện Hàm Rồng, tự vệ Bến Ngự, Lò Chum, Nhà máy Gỗ Điện Biên, Xí nghiệp In Ba Đình... Và ngay trong lòng của Hàm Rồng tự vệ Lò Cao, Phân lân, Tàu thuyền, tự vệ đội cầu 19-5... Giặc Mỹ muốn ta”trở về thời kỳ đồ đá”, chúng đã chọn Hàm Rồng là một “điểm tắc lý tưởng”, nhưng tham vọng của chúng đã bị chôn vùi xuống dòng sông Mã. Chưa bao giờ người Hàm Rồng lại đứng lên một cách kiêu hùng như vậy. Chưa bao giờ người Thanh Hóa lại chăm chú hồi hộp, mắt ngóng về Hàm Rồng với lòng lo âu và chờ đợi như vậy. Bởi giặc Mỹ đánh phá miền Bắc từ 5-8-1964 kia. Nhưng với Thanh Hóa và Hàm Rồng là trận đầu lịch sử đã lựa chọn và chưa bao giờ lại có cuộc đọ sức không cân sức như vậy.

Thanh niên xung phong sửa đường

Trong hai ngày 3 và 4-4-1965, Hàm Rồng cùng Lèn và Ghép bắn rơi 47 máy bay giặc Mỹ. Số phận của Hàm Rồng không còn bình lặng như ngày hôm qua. Đỗ Hữu Quang, chàng trai Hà Nội, một học sinh Trường Chu Văn An, xếp bút nghiên vào Hàm Rồng vào mùa xuân 1965, và ở đó đến ngày ngừng tiếng súng, rời Hàm Rồng khi cùng trung đoàn hành quân theo hàng dọc, kéo pháo vào giải phóng miền Nam. Quang đã sống trọn vẹn với Hàm Rồng, tuổi thanh xuân đã gửi gắm cùng Hàm Rồng. Ngày 3 và 4-4-1965 trung đội 37 ly của anh đóng trên đồi Không Tên. Dân quân và học sinh Đông Quang vào trận địa xem bộ đội bắn máy bay giặc Mỹ. Quang tâm sự cùng tôi, sự hồn nhiên của chiến tranh không bao giờ lặp lại như hôm đó nữa. Địch coi thường lực lượng cao xạ của ta nên thi nhau bổ nhào, trong đời lính  chưa bao giờ anh lại được bắn “đã đời” như trận ấy. Và sau này, chiến công có tầm vóc vĩ đại ấy cũng không lập lại ở Hàm Rồng. Trận đầu, quân và dân Hàm Rồng đã chôn vùi “không lực Hoa Kỳ” xuống tận bùn đen đất đỏ. Trận đầu, không phải cho riêng Hàm Rồng mà cả nước nhìn và ngẫm nghĩ về cuộc chiến tranh nhân dân của ta bảo vệ các mục tiêu trên miền Bắc. Còn chàng binh nhì Ngọc Khuê với cây sáo trúc rời trường sư phạm khi chưa kịp lên lớp cùng học sinh, anh đến với Hàm Rồng hồn nhiên như khúc sáo “con ếch xanh” làm vui đêm liên hoan Hàm Rồng chiến thắng trận đầu. Hàm Rồng cho anh sự khởi hứng để mai này có những khúc ca cùng đồng đội “Lên cao điểm”, “Pháo ngự lưng rồng” và “Làng lúa làng hoa”... Ngày 18-7-1965, “kẻ đột nhập” lại mò tới. Ngay loạt đạn đầu tiên chiếc A6A của giặc đã rơi tại chỗ, tên trung tá Đen-tơn và trung úy Chu-đi dù chưa kịp mở đã bị treo trên ngọn dừa bên dòng sông Mã. Cô Nguyễn Thị Thạch, dân quân làng Nam Ngạn được giao cho dẫn tên xâm lược sừng sỏ sang bờ Bắc.

 Nữ Anh hùng Ngô Thị Tuyển

Nam Ngạn, cả làng ra trận, không phải chỉ riêng Ngô Thị Tuyển, Nguyễn Thị Hằng, Hàn Thị Tĩnh, Lê Thị Huê, Lê Thị Dung...  gia đình cụ Ngô Thọ Lạn cả nhà ra trận, nhà sư Đàm Thị Xuân và nhiều phật tử cùng ra trận. Một lần về Đại đội 4, sau một chuyến công tác, tôi bắt gặp Nguyễn Đình Đông, tiểu đội trưởng ra - đa chở xe đạp đưa nhà sư lên trận địa. Tôi ngộ ra một điều, đứng trước sự hy sinh cao cả, lòng nhân đạo của con người không hề có sự toan tính.

Cả làng Yên Vực là một pháo đài, ở đó không chỉ có 75 dũng sĩ mà các mẹ, các em thi đua cùng nhau chặt lá ngụy trang, đưa giẻ lau pháo, nấu nước cho bộ đội. Đông Quang, Đông Tác, Hạ Oa... cả hai bờ sông Mã cùng ra trận.

Sự hy sinh anh dũng ở một trận đánh. Một động tác anh hùng khi gặp bom đạn của kẻ thù thật cao quý. Nhưng sự chịu đựng dẻo dai, bom đạn, rét mướt và căng thẳng của người lính cũng là một sự phi thường. Trong gian khổ ấy, sự xác định: “pháo là nhà, trận địa là quê hương”, không phải do một sự thần tình hóa mà do “trái tim nghệ sĩ của người lính” nghĩ ra:

                   Bên ni núi Ngọc

              Bên tê núi Rồng

                  Hiên ngang cầu bắc ngang sông

                  Đẹp thay hai tiếng Hàm Rồng quê hương

                 Cầu là máu cầu là xương

                 Cầu là sức mạnh muôn phương gửi về

                 Đứng trên núi Ngọc ta thề

                 Đánh tan giặc Mỹ mới về quê hương.

Sang năm 1966, cuộc chiến chống lại chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ không dễ chịu một tí nào. Máy bay của chúng bay thẳng từ các hạm đội nằm ngoài biển Đông vào, đột nhập vào Hàm Rồng mau chóng. Hàm Rồng đón tiếp các loại máy bay với những tên đầy hù doạ: “Thập tự chinh”, “Con ma”, “Thần đột nhập”... Điều đó không phải là tên gọi dậm dọa mà tính linh hoạt của kẻ địch rất khác xa với lối đánh trước đây. Những cuộc ném bom vào trận địa gia tăng. Một chiến dịch lớn chúng mở ra vào tháng 9-1966. Trong 3 ngày 21, 22, 23 chúng dùng hơn 365 lần chiếc tấn công vào Hàm Rồng. Địch từ xa phóng tên lửa vào cầu. Dùng tên lửa phóng vào ra - đa. Và pháo kích dội vào trận địa. Một lần nữa, người Hàm Rồng lại khoét vào lòng núi làm công sự. Cơ động từ các trận địa để đánh lạc hướng địch. Thành lập các tiểu đoàn đi phục kích máy bay bay thấp. Vào cái ngày buồn của tháng 9 năm 1966, lần đầu tiên cầu Tào trên mình mang vết thương để Hàm Rồng vang lên lời kêu gọi trả thù. Ta đã bắn rơi 8 chiếc, bảo vệ cầu an toàn. Năm 1967 ta bắn rơi chiếc thứ 2.000 trên miền Bắc. Địch bỏ bom bi vào trận địa. Giặc thả thủy lôi hòng phá hoại cầu. Trong trận chiến đấu ác liệt ngày 2 tháng 9 năm 1967, câu khẩu hiệu nổi tiếng được viết trên bờ công sự pháo: “Thà gục trên mâm pháo quyết không để cầu gục” từ đại đội 4 (đại đội anh hùng) thành câu khẩu hiệu truyền thống của người Hàm Rồng.

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm trân địa pháo

Lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã đến thăm và động viên quân dân Hàm Rồng. Đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị... Cả nước dành cho Hàm Rồng tình cảm  và sự mến mộ tài trí và sự kiên cường, dũng cảm, không ngại máu xương bảo vệ nhịp cầu. Lê Xuân Thanh - chiến sĩ đại đội 4 được ra Hà Nội gặp Bác vào cuối năm 1968, Người giơ một ngón tay căn dặn, Hàm Rồng bắn rơi chiếc thứ 100 Người sẽ vào thăm. Hàm Rồng đã vượt lên con số 117 chiếc, có cả B52, nhưng Người đã đi xa. Tôi biết nói cùng đồng đội sao đây. Trong chiến tranh có hàng trăm văn nghệ sĩ đã đến viết về Hàm Rồng. Chính nơi Hàm Rồng đã hun đúc những chiến sĩ của mình thành nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ, anh hùng, cán bộ cao cấp... Hàm Rồng vẫn cho ta những cảm hứng sáng tạo không bao giờ tắt. Hàm Rồng vẫn mới mẻ và nguyên vẹn. Bởi trên thế giới này chưa hề có một cây cầu nào lại có thể trụ vững hàng chục năm trời trước bom đạn hủy diệt của kẻ thù. Hàm Rồng vẫn đứng đó soi mình cùng dòng sông Mã trong xanh. Hàm Rồng biết tựa mình vào lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc.

Báo Thanh Hóa

Bình luận (0)