Dân ca quan họ Bắc Ninh

(Mời Trầu)

Đã từ lâu, trong dân gian nước ta truyền nhau về những lễ hội Quan họ nổi tiếng xứ Kinh Bắc như: Hội Lim, hội Ó, hội Diềm, hội Nhồi... Quả đúng như vậy, những lễ hội này là của những làng Quan họ gốc có qui mô lớn và đặc sắc bởi văn hoá Quan họ gắn chặt cả phần lễ và phần hội. Tục lệ của các làng Quan họ trên qui định chặt chẽ: Quan họ phần lễ là để thờ Thần, thờ Phật; Quan họ phần hội là để các bọn Quan họ nam, nữ của các làng đến tham dự hội hát đối đáp giao duyên, vui chơi giải trí. Quan họ thờ Thần: Không chỉ những làng Quan họ gốc nổi tiếng nêu trên, mà hầu hết các làng Quan họ gốc khác đều có tục lệ hát Quan họ thờ Thần (hoặc thờ Phật) phần lễ và hát Quan họ giao lưu phần hội. Theo tục lệ của các làng Quan họ gốc, hát thờ Thần được qui định chặt chẽ như: Chỉ có bọn Quan họ nam hoặc nữ của làng được hát. Trong hát thờ chỉ được hát những những giọng lề lối (giọng cổ) như: Hừ la, La rằng, Tình tang, Cây gạo... có nội dung ca ngợi công đức của Thần. Hệ thống giọng cổ này có vị trí là khởi nguồn của các làn điệu sau này. Tuyệt đối không được hát giọng vặt có nội dung nam nữ yêu đương. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, nhiều làng Quan họ không còn giữ nguyên được những qui định trên. Ví như các làng Bồ Sơn, Y Na, Yên Mẫn... còn mời các bọn Quan họ nam, nữ của các làng khác đến dự hội hát thờ Thần.

(Đến hẹn lại lên)

Quan họ phần hội: Quan họ phần hội là để các bọn Quan họ nam và nữ của các làng hát đối đáp giao duyên nhằm tạo không khí vui vẻ, giải trí với nhau. Hội của các làng Quan họ hấp dẫn và quyến rũ nhất chính là phần các bọn Quan họ hát đối đáp giao duyên với nhau. Bởi các liền anh, liền chị bằng những làn điệu, những lời ca ngọt ngào đầy tình cảm thể hiện những tâm trạng yêu đương, nhớ nhung, đằm thắm, da diết, quyến luyến của những lứa đôi.

Sách “Kinh Bắc phong thổ” ghi lại tục hát Quan họ ở làng Xuân Ổ (Ó) rằng con gái làng này hát rất hay và coi việc đón bạn trai về nhà trong ngày hội là điều may mắn. Hẳn vì thế, ở những hội Quan họ như Diềm, hội Lim, hội Ó, hội Nhồi... người ta thấy từng tốp các bọn Quan họ nam và nữ say sưa hát ở sân đình, sân đền, sân chùa, trên đồi núi, quanh đình chùa... có khi tràn cả xuống bờ ruộng, trên thuyền giữa sông nước. Hát Quan họ giao lưu bao giờ cũng hát đôi và hát đối giữa các bọn Quan họ nam và nữ. Có nghĩa là khi một đôi nam (hay nữ) của bọn Quan họ bên này cất tiếng hát thì bọn Quan họ bên kia cũng chuẩn bị sẵn một đôi để hát đối lại . Trong cặp hát, người ca chính bắt giọng trước, người ca luồn bắt giọng sau.

(Giao Duyên)

Bên kia hát giọng nào thì bên này phải hát đối bằng giọng ấy. Cũng vì hát đối mà dân ca Quan họ đã có sự phát triển vượt bậc cả về làn điệu và lời ca. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được gần 400 làn điệu và gần một nghìn lời ca. Sau khi các bọn Quan họ tham gia hát ở hội (còn gọi là ca sự tại đình), họ kéo nhau về nhà ông (bà) Trùm có nhà chứa của mình hỏi han, động viên nhau và ở đây diễn ra hát canh Quan họ (còn gọi là ca sự tại gia). Vào canh hát bao giờ người ta cũng hát đôi và hát đối theo lề lối. Hát theo lề lối có nghĩa là các đôi Quan họ bắt đầu hát bằng hệ thống giọng cổ như: Hừ la, La rằng, La hời, Tình tang, Cây gạo, Cái ả, Lên núi, Xuống sông... Hát chừng 10 bài giọng lề lối, chuyển sang giọng sổng vài câu, tiếp đến là giọng vặt và cuối cùng là giọng giã bạn. Giữa canh hát bao giờ chủ nhà cũng mời Quan họ bạn xơi cơm, uống nước Quan họ (cỗ mặn, chè nước, bánh ngọt...). Tất cả các cử chỉ mời trầu, mời nước, mời ăn... đến ca hát đều lịch thiệp, khéo léo, tế nhị với những lời ca tiếng hát ngọt ngào, đằm thắm. Khi Quan họ bạn xin phép ra về thì Quan họ chủ sẽ tiễn ra tận cổng làng. ở đây họ còn dùng dằng lưu luyến nhau bằng một số câu giã bạn.

(Người ơi người ở đừng về)

Không nên gọi “Quan họ cổ” bởi sẽ không giải thích được “cổ” là gì? Bài bản ra đời vào thời gian nào được xếp là cổ? Có nhiều làn điệu Quan họ ra đời cách ngày nay vài trăm năm, như 5 điệu lề lối cơ bản: La rằng, Tình tang, Bạn kim lan, Cái ả, Cây gạo, lại có nhiều làn điệu được sáng tác vào những năm 30-40 của thế kỷ trước như: Thú giải phiền, Con chim thước, Còn người còn nước còn non, Gọi đò, Lỡ duyên, Chức Nữ-Ngưu Lang, Bốn mùa, Chè mạn hảo, Đàn ca, Cây kiêu bổng, Chia rẽ đôi nơi... Có ý kiến cho rằng phải bảo tồn QH gốc (ý nói bài bản gốc). Quan họ thuộc loại hình văn nghệ dân gian với tính tuyền miệng và tính hòa nhập rất cao. Vì vậy việc xác định những bài Quan họ  gốc không khác gì “mò kim đáy bể”. Từ những căn cứ trên nên dùng cụm từ “Quan họ truyền thống” thì chính xác hơn. Quan họ truyền thống tức là các mặt hoạt động văn hóa Quan họ, trong đó có bài bản Quan họ do ông cha để lại, truyền lại. Sự khác nhau giữa “QH mới”“QH truyền thống” được biểu hiện ở những mặt: Khác nhau về khung cảnh. Quan họ truyền thống hoạt động trong các làng quê Quan họ, chủ yếu tập trung vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ (hoạt động trong tổng thể gồm nhiều mặt), còn Quan họ mới chủ yếu hoạt động trên sân khấu và chỉ riêng về tiếng hát. Các băng đĩa về tiếng hát Quan họ cũng chung đặc điểm với Quan họ trên sân khấu.

(Quan họ giao duyên)

Trong hát Quan họ ngày xưa không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người người thưởng thức, đặc biệt là thưởng thức “cái tình” của bạn hát. Quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau. Quan họ truyền thống chỉ có ở các làng Quan họ, Quan họ mới được trình diễn trong cả tỉnh, cả nước và đến với tất cả các châu lục trên thế giới. Quan họ truyền thống chủ yếu sinh hoạt trong ngày hội, Quan họ mới được trình diễn vào bất kỳ ngày nào trong năm. Về hình thức, Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi, đôi nam ca đối đáp với đôi nữ (hát hội, hát canh) và hát cả bọn, cả bọn nam ca đối đáp cùng cả bọn nữ (Hát chúc, mừng, hát thờ). Quan họ mới hình thức biểu diễn phong phú hơn, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa... Sự khác nhau về mặt bài bản biểu hiện ở điểm một bên dùng gần như nguyên các bài bản truyền thống, còn một bên đã có sự cải biên các bài bản truyền thống. Việc cải biên diễn ra ở những mức độ khác nhau: Cải biên không có ý thức: Khi đệm nhạc để hát, ít nhiều là một sự cải biên.

(Hát quan họ dưới thuyền)

Đại đa số các bài bản được gọi là Quan họ mới là ở mức độ cải biên này. Cải biên có ý thức là những bài bản đã cải biên cả nhạc và lời của bài bản Quan họ truyền thống. Loại cải biên này không nhiều, ví dụ bài “Người ở đừng về” là cải biên từ làn điệu “Chuông vàng gác cửa tam quan” (Xuân Tứ cải biên). Quan họ lời mới được nhiều người yêu thích tới mức tưởng nhầm là Quan họ truyền thống như bài “Sông Cầu nước chảy lơ thơ” do Mai Khanh soạn lời mới từ làn điệu truyền thống “Nhất quế nhị lan”. Khác nhau về mặt mục đích hoạt động là khác nhau cơ bản nhất giữa Quan họ truyền thống và Quan họ  mới, cũng là khẳng định quy luật phát triển tất yếu của Quan họ. Mục đích chính của Quan họ trong các làng xã Quan họ hiện nay là để bảo tồn Quan họ. Mục đích này đã và đang từng bước hoàn thành. Tuy vẫn còn nhiều điều phải điều chỉnh tiếp, nhưng không ai có hiểu biết thực tế có thể nói rằng “không gian và những sinh hoạt theo lề lối cổ của Quan họ không còn nữa”. Quan họ  mới có nhiệm vụ tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá Quan họ  trên diện rộng, giúp đông đảo nhân dân trong cả nước và quốc tế biết đến Quan họ. Về cơ bản vẫn là giai điệu âm nhạc Quan họ truyền thống, có cải biên đôi chút, có thay đổi khung cảnh và hình thức biểu diễn mà được quảng bá trên diện rộng là việc rất nên làm. Đó cũng là một hoạt động bảo tồn đúng với bản chất nội tại của Quan họ

(Đền Vua Bà, thủy tổ quan họ làng Diềm)

Trong 49 làng Quan họ gốc, chỉ ở Diềm mới có đền thờ Thủy tổ Quan họ gọi là đền Vua Bà. Theo tục lệ của làng, một năm có 4 tiết lệ chính là: Hội chùa (15 tháng Giêng âm lịch), Hội đền Vua Bà (6 - 2), Hội tát giếng (3 - 3), Hội đình (6 - 8), mỗi tiết lệ có một sắc thái riêng, trong đó Hội đền Vua Bà - kỷ niệm ngày Đức Vua Bà du xuân giáng hạ xuống Trang Viêm Xá là hoạt động có tính chất tâm linh truyền thống, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của người dân miền Quan họ. Trong Hội đền Vua Bà truyền thống, dân làng tổ chức lấy nước từ giếng Ngọc để làm lễ bao sai, sau đó cử hành tế lễ. Đến tối tất cả các bọn Quan họ trong làng tụ tập trước cửa đền Vua Bà hát Quan họ với nội dung ca ngợi công đức của Người. Mỗi khi gặp hạn hán, người dân làng Diềm lại tổ chức lễ cầu đảo tại đền mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, vật nuôi sinh sôi nảy nở

(Hội đền Vua Bà)

Hội đền Vua Bà mấy mươi năm nay không còn được tổ chức bài bản và đầy đủ như trước đây nữa song vẫn giữ nguyên giá trị tâm linh, đặc biệt là trong sinh hoạt văn hoá Quan họ ở 5 mặt hoạt động: Dân ca Quan họ, tục kết bạn Quan họ, văn hoá hành vi Quan họ, lễ hội Quan họ và tín ngưỡng Quan họ. Năm nay, phần Khai mạc lễ hội được tổ chức ngắn gọn, sau các tiết mục văn nghệ của chi Hội Người cao tuổi thôn, màn biểu diễn của của dàn nhạc gồm 9 trống, 4 chiêng do Viện Văn hoá - Thông tin (Bộ Văn hoá - Thông tin) trao tặng năm 2006 tạo ấn tượng đặc biệt. Tiếng trống hội muôn đời vẫn thế, dồn dập, rộn ràng thúc giục bước chân du khách mau về với hội để thưởng thức những giá trị văn hoá riêng có vùng Thủy tổ. Trong lễ hội đền Vua Bà, ở đâu du khách cũng nghe những giai điệu trầm bổng hội tụ đủ vang – rền – nền – nảy của người Quan họ. Dù là trong đền Cùng, đền Vua Bà, trên thuyền rồng hay ở “nhà chứa” của các bọn Quan họ thì những lời ca đằm thắm, mượt mà của Quan họ sở tại giao lưu với các làng kết bạn và khách thập phương vẫn làm mê đắm hồn người. Đến làng Diềm ngày thường đã thấy Quan họ là đặc trưng, ngày đông hội tưởng như là khí thở bởi người người hát Quan họ, nhà nhà hát Quan họ.

(UNESCO công nhận Quan họ Bắc Ninh

là di sản văn hóa nhân loại )

Ngay tại trung tâm văn hoá của thôn, chúng tôi được thưởng thức “Khách đến chơi nhà” do 2 liền chị Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Hải – cặp hát đối đạt giải Nhất 50 bài tại Hội thi Hát Quan họ đầu xuân Đinh Hợi trình bày. Quan họ giống như dòng suối cứ chảy mãi, chảy mãi được tiếp nối muôn đời. Du khách mọi miền tìm đến hội Diềm cũng bởi để thoả lòng mong ước được thẩm thấu thứ âm nhạc độc đáo ấy. Chị Trịnh Lan Ly công tác ở Hà Nội năm nào cũng ghé hội Diềm cất công tìm học cho được đôi ba làn điệu Quan họ cho biết “Tôi có thể thức thâu đêm để được nghe các liền anh, liền chị hát canh. Thật khó lý giải vì sao mình lại yêu thích đến thế lối hát truyền thống này, dường như có một sự giao hoà đặc biệt giữa tâm hồn những người hát để rồi lưu lại sau mỗi lần gặp mặt là nỗi vấn vương thật khó tả...” Hội đền Vua bà ít ồn ào mà sâu lắng, nhẹ nhàng, đúng như phong thái của người Quan họ. Lễ hội tôn vinh Đức Vua Bà đã không còn chỉ của riêng làng Quan họ Viêm Xá mà đã trở thành một tín ngưỡng độc đáo hướng về một vị nữ vương có công lớn khai sinh và truyền dạy sinh hoạt văn hoá Quan họ.  
Báo Bắc Ninh

 

Bình luận (0)