Hát mừng Bộ Đội chiến thắng -Nguyễn Xuân Khoát

 Hát mừng bộ đội chiến thắng.

Có một nghệ sĩ đã từng mơ mơ ước có một khu vườn - vườn âm nhạc Việt Nam, nơi đó sẽ có người đến tham quan, xem cảnh, người nghe đàn, nghe hát, khu vườn ấy sẽ có nhiều hoa, có những khóm tre, khóm trúc, những ngôi nhà rông, có những trai thanh gái lịch Bắc Ninh hát mời trầu, mời nước, ướm hỏi chỉ bằng bằng câu hát, lại có hát đúm ngoài trời khi trăng lên, hát ả đào theo cách ngày xưa...            Ông chính là nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, người được mệnh danh là anh cả, là con chim đầu đàn của nền âm nhạc mới Việt Nam, người đã kiên trì bảo vệ và phát huy tính dân tộc trong âm nhạc từ những ngày đầu cho đến phút cuối cuộc đời. Nguyễn Xuân Khoát là một người con ưu tú của đất Hà Thành, ông sinh ngày 11 tháng 2 năm 1910 và mất năm 1994. Không chỉ có duyên với âm nhạc mà tâm hồn Nguyễn Xuân Khoát luôn xem âm nhạc như người bạn tri kỷ không thể thiếu trong cuộc đời. Trải qua những sóng gió trên con đường sáng tạo nghệ thuật, với tấm lòng thực sự say mê và nguyện tâm cống hiến cuộc đời cho âm nhạc, ông đã trở thành niềm tự hào của bao thế hệ người Việt Nam trong vai trò là Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam với đam mê, kiên trì đến tận cùng với tâm nguyện góp sức mình gìn giữ bản sắc dân tộc trong âm nhạc Việt Nam. Trong con đường âm nhạc, Nguyễn Xuân Khoát chỉ có một ước nguyện đi theo con đường tìm hiểu, khai thác vốn âm nhạc dân tộc cổ truyền. Ông là một trong những học viên hiếm hoi được tham gia học tại Trường Viễn đông Pháp quốc Nhạc viện ở Hà Nội từ năm 1927 đến 1930. Trong thời gian này, ông đã say mê học đàn công-tơ-rơ-bát và pi-a-nô, sau đó lại đi sâu nghiên cứu nhạc chèo, ca trù (hát ả đào) và các làn điệu dân ca.

(Hát ả đào)

Sau này, khi giữ cương vị Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam, ông tiếp tục nghiên cứu, khám phá trong kho tàng vô giá của âm nhạc dân tộc cổ truyền, của bộ gõ dân tộc, say mê với tiếng trống cơm, sênh tiền, tiếng khánh, tiếng chuông, tiếng mõ. Khi đã ở tuổi 70, ông gặp nhóm nhạc cụ gõ ở Phù Đổng, cùng anh em trong nhóm tạo lập một thứ giai điệu bằng màu sắc của âm thanh, màu âm của chuông, mõ sênh... diễn tả các màu sắc tình cảm của con người. Nguyễn Xuân Khoát luôn tìm đến với những đam mê của âm nhạc dù trong bất cứ thời điểm nào. Những năm tháng đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám thành công, cùng với Thế Lữ, ông đã tham gia Đoàn kịch Anh Vũ và thời gian này ông cũng trở thành thành viên quan trọng trong Hội Khuyến nhạc tổ chức ở Hà Nội. Trong kháng chiến chống Pháp, ông nổi tiếng với Tiếng chuông nhà thờ, Uất hận... Trong giai đoạn tham gia quân đội, ông đã cùng Nguyễn Đình Thi viết lại Con voi và sáng tác Hát mừng bộ đội chiến thắng. Hoà bình lập lại, hợp xướng Ta đã lớn, Hò kiến thiết và Lúa thu - một ca khúc thiếu nhi khá độc đáo về đề tài đấu tranh thống nhất đất nước đã để lại nhiều ấn tượng trong người yêu nhạc. Trong thời kỳ này, ông được bầu là Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam Khoá I. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông có Tay súng sẵn sàng, tay lúa vững vàng như cùng nhạc sĩ cả nước thúc giục chiến đấu. Theo lời Bác gọi của ông đã như lời hiệu triệu bằng âm nhạc kêu gọi thanh niên lên đường ra tiền tuyến. Mang đậm chất dân gian, tế nhị và hóm hỉnh, đó là những nét nổi bật trong phong cách âm nhạc của Nguyễn Xuân Khoát. Có lẽ trong số chúng ta khi được nghe những Con cò mày đi ăn đêm, Con voi, Thằng Bờm.. đều cảm nhận được những nét tinh tế, những xúc cảm mang đậm phong cách truyền thống âm nhạc dân gian của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Sáng tác “Bình minh” (Thơ Thế Lữ), ấn phẩm đầu tay của ông được in trên tờ Ngày nay được xem như mốc son đánh dấu sự ra đời của tân nhạc Việt Nam. Thấy được nét riêng biệt của âm nhạc Việt Nam, ở nhiều tác phẩm của mình, năm 1942, ông tham gia nhóm Xuân Thu Nhã Tập cũng với tiêu chí trên và đã thực hiện phổ nhạc một cách độc đáo bài thơ Màu thời gian, Hồn Xuân, Mây bay cao…

Ca Huế

Có thể nói, những sáng tác của ông rất đa dạng về phong cách, Nếu “Bình minh” có cấu trúc gọn gàng theo kiểu ca khúc quần chúng phổ thông ở phương Tây thì đến “Con voi”, “Con cò mày đi ăn đêm” thì có âm hưởng gần gũi với cấu trúc của ca dao Việt Nam, “Thằng Bờm” sử dụng thang âm và lối chạy crômatic của phương Tây, Uất hận mang tính chất tự sự, kịch tính và gần như một thứ ngâm vịnh, Tiếng chuông nhà thờ nhằm tố cáo hành động tội ác của những kẻ xâm lược và nói lên quyết tâm kháng chiến của toàn dân, trong đó giai điệu có chỗ bắt chước tiếng chuông nhà thờ, những đoạn đối thoại gần với chất ngâm ngợi của cải lương, nhưng tư duy hòa thanh theo kiểu châu Âu, với những đoạn hợp xướng gần với hợp xướng giáo đường (Choral), Theo lời Bác gọi với âm hưởng thôi thúc của những tiếng kèn xung trận, Hò kiến thiết bố cục gọn và khỏe, vận dụng chất âm nhạc dân gian. Tính chất hài hước rất tế nhị và hóm hỉnh của ông, từ Con voi, Thằng Bờm, sau này thấp thoáng ẩn hiện trong bài hát Hát mừng bộ đội chiến thắng hoặc bài hát Quanh Hồ Gươm. Nguyễn Xuân Khoát suốt cả một đời đi tìm... đi tìm không mỏi mệt. Đến tuổi “bóng xế”, ngọn lửa âm nhạc trong tâm hồn ông càng mãnh liệt. Người nhạc sĩ ấy đã truyền được ngọn lửa gìn giữ bản sắc dân tộc sang các thế hệ nhạc sĩ lớp sau bằng những bài viết, bằng tác phẩm, bằng cả những cuộc trò chuyện.. đầy tâm huyết của mình. Cho đến nay, nhiều tuyển tập ca khúc, nhiều sách chuyên khảo và album về tác giả đã được xuất bản và giữ gìn. Mặc dù đã khuất núi, nhưng hình ảnh một người nhạc sĩ đầy nhiệt huyết và nặng lòng với âm nhạc truyền thống luôn sống mãi trong tâm hồn những người yêu âm nhạc và những dòng suy nghĩ của ông mãi được chúng ta ghi nhớ: "Muốn cho sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo của mình có giá trị lâu dài, được nhân dân, dân tộc mình yêu thích, người nhạc sĩ trước hết phải thuộc, phải nắm bắt được cái cộng hưởng âm thanh và tiết tấu, cái cộng hưởng của tiếng vang cuộc sống thiên nhiên và xã hội của dân tộc đã được cô đọng, làm đẹp lên trong cái cộng hưởng của nhạc cụ dân tộc mình". Theo CPV

Bình luận (0)