Lăm Tơi - Dân ca Lào

Cô gái Lào với điệu múa lăm vông.

Năm 1968, sau khi giải phóng Nậm Bạc, đơn vị tôi được giao nhiệm vụ đi vận động nhân dân phá bỏ trại tập trung, đưa dân về bản cũ, khôi phục lại sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Trong điều kiện khó khăn, dân phải đi sơ tán ở trong rừng, trong núi. Nhưng lạ thay, cứ tối đến là bà con từ lớn, bé, già trẻ lại tự giác đem củi đến khoảng đất trống giữa bản để mời "Ải noọng Việt lăm sa ma khi" (mời anh em Việt múa đoàn kết).            Chiến tranh trống không có, ông trưởng bản bê vỏ cau săng ra gõ thay trống, đến lúc cao trào của điệu lăm vông thật rộn rã, náo nhiệt đủ các loại dụng cụ gia đình từ thùng, mẹt bất cứ thứ gì rõ ra tiếng bập bùng đều được dân lôi ra gõ. Một không khí tưng bừng, phấn chấn hiện lên từng nét mặt mỗi người dân. Những ác liệt của chiến tranh, khó khăn của đời sống không còn hiện hữu trong đêm lửa trại lăm vông đoàn kết Lào - Việt. Thời gian đầu mới tiếp xúc với dân, cánh lính tình nguyện chúng tôi thấy lạ lùng, bỡ ngỡ; đi đến đâu cũng thấy lăm vông. Cuộc sống của người dân trong chiến tranh cực khổ vô cùng, nhưng sao bà con vẫn hát, vẫn vui được. Phải chăng mỗi bài hát, làn dân ca, mỗi một "lóp" lăm vông đã truyền cho sức mạnh, tinh thần lạc quan để vượt qua gian khổ thác ghềnh, hướng về tương lai tươi sáng. 

"Ải noọng Việt lăm sa ma khi"

 Càng đi, sống gắn bó với nhân dân các bộ tộc Lào tôi càng thấm thía sức mạnh của văn hóa như đôi cánh thần tiên nâng ta lên đỉnh cao của sức mạnh, lòng dũng cảm để vượt qua mọi khó khăn ác liệt của chiến tranh. Sức mạnh đó đã được lớp lớp quân và dân Việt Nam thể hiện trong suốt hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc với phong trào "tiếng hát át tiếng bom". Tôi còn nhớ lần ấy tiểu đội đi công tác biệt phái. Trên đường đi đang nắng trời lại đổ mưa, đồng chí trung đội trưởng đi cùng và hai chiến sĩ lên cơn sốt rét. Chúng tôi dìu nhau vào một bản người Lào Lum xin nghỉ nhờ qua đêm. Ai đã từng dính sốt rét mới thấm hiểu cái rét từ trong cơ thể phát ra, bao nhiêu chăn của anh em trùm lên người mà người bệnh vẫn run cầm cập. Ngay khi chúng tôi vừa đến ông trưởng bản đã nhiệt tình xếp nơi ăn chốn nghỉ cho anh em, rồi ông đứng ở đầu sàn a lô một tràng tiếng Lào. Mới tối chúng tôi vừa ăn cơm xong đã thấy ở khoảng sân giữa bản người già, trẻ nhỏ mỗi người vác một ôm củi đặt ở giữa sân. Bà con dân bản kéo đến ngồi thành vòng tròn, lửa được đốt lên. Ông trưởng bản đến mời chúng tôi ra vui đoàn kết với nhân dân. Tôi còn đang băn khoăn vì còn 3 đồng chí ốm thì tiếng trống bập bùng đã vang lên. Đầu tiên là anh trung đội trưởng rồi đến hai chiến sĩ vừa dứt cơn sốt rét ngóc đầu khỏi chăn hỏi: "Lăm vông à?" và chẳng biết sức mạnh nào dựng cả ba chiến sĩ vừa dứt cơn sốt khoác súng cùng tôi kéo ra sân.

 

 

Sơn ải lăm vông sa ma khi

 Một hàng ghế dành cho chúng tôi, đối diện là hàng ghế các thiếu nữ của bản. Sau mấy lời chào mừng của ông trưởng bản, trống lăm vông nổi lên, các thiếu nữ của bản đứng dậy đến trước mặt chúng tôi chắp tay trước ngực cúi đầu cất lời mời nhẹ nhàng: Sơn ải lăm vông sa ma khi (mời anh lăm vông-đoàn kết) từng đôi bước đi quanh đống lửa nhịp nhàng uyển chuyển theo nhịp trống và tiếng vỗ tay của những người ngồi xung quanh. Ánh lửa hồng rực rỡ, làm rạng rỡ gương mặt của các ông bố, bà mẹ và những chàng trai cô gái bản Lào. Chính không khí đằm thắm tình nghĩa quân dân Việt - Lào đã xua đi cơn sốt rét, mệt mỏi để chúng tôi thêm sức mạnh tiếp tục chặng đường hành quân vào buổi sáng hôm sau. Đây là một điệu nhảy dân gian Lào và thường được nhảy trong các lễ hội, đám cưới, các bữa tiệc. Thực sự mà nói thì không có lễ hội nào kết thúc mà không có điệu nhảy này. Trong nhiều năm gần đây, người Việt Nam cũng không còn xa lạ gì với điệu múa này. trước đây chỉ có những sinh viên Lào trong ngày quốc khánh nhảy điệu nhảy này mà thôi. Điệu nhảy Lăm Vông chỉ được đưa vào các sàn nhảy ở Hà Nội từ khoảng 5-6 năm nay, đầu tiên là sàn Đông Đô, sau đó là Kinh Đô... Nhưng sau đó thì ở sàn nào cũng bắt chước theo và Lăm Vông trở nên phổ biến trên các sàn nhảy ở Hà Nội .


Lăm Vông trở nên phổ biến trên các sàn nhảy ở Hà Nội .

Ở Đông - Nam Á, nhiều dân tộc có múa truyền thống, nhưng không phải dân tộc nào cũng có sinh hoạt múa phổ biến trong nhân dân như ở Lào. Theo tiếng Lào “Lăm” là hát, “Vông” là tròn. Lăm Vông thường sử dụng những điệu dân ca, như dân ca Tăng Vi, Lăm Xa-ra-van, Khắp Thùm… Khi múa có hát hoặc nhạc đệm bằng những bài quen thuộc ấy. Lăm Vông rất phổ biến trong nhân dân Lào, múa theo nhịp 4/4. Khi nhảy, mọi người đứng theo hai vòng tròn, nữ ở vòng tròn trong và di chuyển ngược chiều kim đồng hồ (Tuy nhiên ở trên sàn thì thường là ngược lại: Nam ở trong, nữ ở ngoài). Trước khi nhảy hai người chào nhau theo kiểu Lào bằng cách chắp tay trước ngực, chân hơi chùng xuống, đầu hơi cúi, đây cũng là kiểu chào của người Thái.

Trong khi di chuyển nam và nữ có thể đổi vị trí, đi vòng quanh nhau.... Tay nữ múa từ trong ra trong khi tay nam múa vòng rộng hơn và thấp hơn. Động tác của nữ là vừa cuộn bàn tay, vừa ép ngón trỏ vào ngón cái, các ngón xoè rộng và uốn cong. Chân thì cứ ba bước tới, một bước lùi. Còn phía trai thì lắng nghe những lời ca, những tiếng nhạc để “tự điều chỉnh mình” cho nhịp nhàng từng động tác.

Duyên dáng và đằm thắm, Lăm Vông đã luôn đóng vai trò là một nhu cầu sinh hoạt văn hoá, hình thức sinh hoạt tập thể vui tươi, vừa có tác dụng giáo dục thẩm mỹ của Lào từ bao đời nay. Vẫn tiếng trống bập bùng hòa với đàn thuyền rộn rã, điệu khắp, điệu lăm dân ca các bộ tộc Lào bay bổng sôi động. Những ai đã có thời sống trên đất nước Lào đều không thể quên tiếng trống rộn rã của điệu lăm vông. Tiếng trống lăm vông bập bùng đánh thức trong tôi kỷ niệm của một thời trận mạc, sát cánh cùng quân dân Lào chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.  

Hoàng Tiến

Bình luận (0)