Làng quan họ với lễ hội mùa xuân

Bắc Ninh là một trong những tỉnh có nhiều lễ hội. Vùng Kinh Bắc có 49 làng quan họ gốc thì Bắc Ninh có 44 làng và làng nào cũng có lễ hội, đều được tổ chức vào mùa xuân. Làng quan họ gốc mở hội sớm nhất là làng Hữu Chấp, còn gọi là làng Chắp, vào ngày mồng 4 tháng Giêng.

Em là con gái Bắc Ninh - (Đang cập nhật) - Thúy Cải - Đoàn dân ca Quan Họ Bắc Ninh

Làng mở hội muộn nhất là làng Ðiều Thôn, còn gọi là làng Ðào Xá, vào ngày rằm tháng hai. Văn hóa quan họ và văn hóa lễ hội có mối quan hệ tương tác, hai chiều. Văn hóa lễ hội là điều kiện để quan họ tồn tại và phát triển. Ngược lại, văn hóa quan họ với tư cách là một bộ phận cấu thành lễ hội làng xã, đã làm cho lễ hội vùng quan họ mang mầu sắc riêng, độc đáo.

Từ môi trường văn hóa lễ hội, quan họ đã được thừa hưởng những yếu tố cần thiết để làm đẹp cho người quan họ. Trong đó phải kể đến trang phục lễ hội. Trang phục của người quan họ ngày nay, truy về nguồn gốc, từ khăn, nón, quần áo, giày, dép, xà tích... chính là trang phục của lễ hội. Nói chính xác là trang phục của nam thanh, nữ tú đi trảy hội mùa xuân. Song nó được người quan họ, với tư cách vừa là những người đi chơi hội, vừa hoạt động văn nghệ nên các liền anh, liền chị đã tạo dựng cho mình những nét đẹp hơn của phục trang, từ chất liệu vải cho tới kỹ thuật khâu may.

Ngày hội xuân là dịp để các bọn quan họ mời bạn đến làng mình, tham gia tế lễ, thăm hỏi gia đình và sinh hoạt ca hát. Mỗi năm vào hội, tất cả các bọn quan họ trong làng đều mời các bọn quan họ kết nghĩa với mình sang chơi. Có những làng như làng Diềm, làng Lũng có hàng chục bọn quan họ nam, nữ và bọn quan họ nào cũng kết nghĩa với bọn quan họ ở làng khác. Việc đón tiếp và tổ chức ca hát quan họ trong một ngày hội thường diễn ra như sau: Từ chiều hôm trước, cử đại diện sang làng bạn có lời mời; ngày khai hội, quan họ chủ ra tận cổng làng đón khách, dẫn bạn vào đình và chùa làm lễ và hát, gọi là 'ca sự tại đình'; sau đó, đón bạn vào 'nhà chứa', tổ chức hát canh cho tới nửa đêm mới mời cơm, tiếp đó hát cho tới sáng, gọi là 'nam nữ du ca tại gia'. Ngày hôm sau, khách đi thăm hỏi các gia đình của quan họ sở tại, đi chơi hội, hát hội, rồi lại về nhà chứa ca hát, cho tới giã hội mới 'giã bạn'. 

Như vậy, trong ngày hội xuân của một làng quan họ, trai gái quan họ từ các làng, chủ yếu là các làng kết bạn, nô nức rủ nhau đến trảy hội và ca hát. Từng cặp nhóm quan họ kết bạn đứng hát với nhau ngay ở ngoài trời nơi trung tâm hội, như sườn đồi (hội Lim), hoặc sân đình, sân chùa và có khi tỏa ra hát ở mặt đê (Ðống Cao, Trà Xuyên, Khúc Toại...). Như vậy, quan họ tham gia một cách toàn diện vào lễ hội, từ phần lễ nơi thâm nghiêm cho tới phần hội sôi động, từ trung tâm làng cho tới các xóm ngõ, tới tận từng gia đình. Sự tham gia ấy khiến cho ngày hội thật sự là dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Mỗi làng quan họ gốc đều có sắc thái riêng, xuất phát từ thờ Thành Hoàng khác nhau, phong tục khác nhau, phát triển kinh tế khác nhau nên hội làng cũng có nét riêng quan họ. Làng Nhồi, còn gọi là Hòa Ðình, xưa có tục quan họ tham gia rước bà Ðống. Vào ngày hội làng, mồng 7 tháng Giêng hằng năm, làng Nhồi mở hội rước nữ thần là bà Ðống từ một gò đất thuộc làng quan họ gốc Ðống Cao về làng. Ðám rước được trai gái hai làng tổ chức từ nửa đêm hôm trước. Tiếp đó, lễ tế bà Ðống được cử hành vào sáng hôm sau trong chùa làng Nhồi. Bấy giờ nam nữ quan họ ngồi ở thềm và sân chùa cùng nhau hát quan họ xen lẫn tiếng tụng kinh niệm Phật.

Ở làng quan họ gốc Châm Khê có tục tắm Phật. Nam nữ quan họ cùng với đám rước bơi thuyền ra bãi soi giữa sông Ngũ Huyện Khê lấy nước ở giếng đền mẫu đem về tắm Phật. Vừa bơi thuyền vừa hát quan họ. Việc làm này từ ngày 23 tháng Giêng, trước chính hội năm ngày. Nhưng quan họ ca trên thuyền phải đến ngày 28 giã hội mới giã bạn. Làng Diềm, làng thủy tổ quan họ có hát quan họ cầu đảo. Thủy tổ quan họ là 'Nam hải đại vương'. Bức bài vị ở đền vua Bà đề 'Ðương cảnh thành hoàng, Quốc vương thiên tử, Nhữ Nương nam nữ, Nam hải đại vương'. Chính vì coi vua Bà là thần nước, nên vào những năm hạn hán, dân làng Diềm lại làm lễ cầu đảo tại đền vua Bà và các bọn quan họ nam nữ trong làng tổ chức hát quan họ cầu đảo. Làng quan họ Ðông Mơi có tục ca quan họ trước khi rước thần là Dương Mai công chúa. Từ tinh mơ ngày chính hội, 12 tháng Giêng, các bọn quan họ ra đình thắp hương làm lễ. Sau đó chia thành hai nhóm, một nam, một nữ, trải chiếu ra sân, ca quan họ đối đáp ở sát hai gian cạnh của đình. Nội dung là ca ngợi công đức của Thành Hoàng làng đã giúp Lý Nam Ðế trong việc trị quốc an dân, đồng thời cầu mong ngài phù hộ cho dân làng được an khang, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Mối quan hệ giữa văn hóa quan họ và văn hóa lễ hội đã hòa nhập vào nhau, văn hóa quan họ là một yếu tố, một hoạt động không thể thiếu trong hội xuân của các làng quan họ gốc, và nhờ thế mà trường tồn, phát triển.

Nguyễn Khang

Bình luận (0)