Lê Quang Vịnh người con quang vinh - Nguyễn Tài Tuệ

Kết quả hình ảnh cho Lê Quang Vịnh - người con quang vinh”.

(Vợ chồng Lê Quang Vịnh thời trẻ)

Nhạc sỹ Nguyễn Tài Tuệ từng viết “Lê Quang Vịnh- người con quang vinh. Tôi khắc tên anh vào trái tim tôi. Tôi hát tên anh trong triệu muôn người”. Còn báo chí gọi ông là “Huyền thoại Côn Đảo”. Tôi tìm đến ông bởi lẽ đầu tiên cũng vì ông là “huyền thoại”. Gặp rồi, tôi hiểu rằng: “Huyền thoại”, trở về giữa đời thường thì cũng lắm phong ba. Và hạnh phúc sẽ mỉm cười với những người xứng đáng...

 

“Huyền thoại”- không tránh nổi phong ba Cuối tháng 9, Hà Nội đón ông với gió heo may se sắt. Ông được mời về dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ ViệtNam lần thứ VII. Tôi tìm ông giữa hơn 1000 đại biểu, nhưng không khó khăn bởi rất nhiều đại biểu biết ông. Đã có nhiều năm công tác tại Hà Nội, nên mỗi khi trở về, ông lại thấy lòng rưng rưng, cảm giác nhớ thương dâng đầy khi đi qua từng con phố.

(Gia đình Giáo sư Lê Quang Vịnh)

Đêm- phố Chu Văn An bình yên xao xác lá. Ông như một thi sĩ đang làm thơ, thi thoảng sực nhớ ra có một người ngồi cạnh là tôi, lại quay sang mỉm cười: Cô bạn trẻ, bằng tuổi cô, tôi đang ở trong tù. Ngày đó, tôi và đồng đội không ai nghĩ tới một ngày người ta sẽ gọi mình là “huyền thoại”. Chúng tôi đấu tranh vì độc lập, tự do cho đất nước mình, cho đồng bào mình. Nhưng cuộc đời là vậy đó, có cho, có nhận...

Trước mắt tôi không còn bóng dáng của một tử tù, chỉ có hình ảnh của một giáo sư đang say sưa cùng những vần thơ và ca khúc. Nhưng đâu đó, trong cuộc trò chuyện vẫn đắng đót một màu quá khứ. Ông cúi đầu khi nhắc về đồng đội, những người đã cùng ông trải qua gian lao tại “địa ngục trần gian”...

Bỏ lại đằng sau danh hiệu thủ khoa khoa Toán trường Đại học sư phạm Sài Gòn, giáo sư trường Petrus Ký (một trường hàng đầu ở miền Nam thời đó), ông dấn thân vào cuộc đời hoạt động cách mạng. Năm 1962, Lê Quang Vịnh bị toà án nguỵ quyền Sài Gòn kết án tử hình, rồi bị đày ra Côn Đảo cầm cố ròng rã suốt 14 năm liền. Lê Quang Vịnh là một trong những cái tên trở thành biểu tượng của sự quật khởi, hiên ngang trước kẻ thù.

(Các cựu tù Côn Đảo thắp hương tưởng niệm đồng đội)

Giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước, ông được ra tù khi đã ở vào tuổi “ngoại tứ tuần”. Cuộc sống, cứ ngỡ sẽ đền bù cho ông sau 14 năm gian khổ, nhưng, dường như, thử thách vẫn tiếp tục muốn trêu đùa người anh hùng trở về từ Chuồng Cọp. Sau giải phóng, ông được cử làm Phó giám đốc rồi Giám đốc Sở Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1986, ông được cử làm Bí thư huyện uỷ Côn Đảo. Ông về lại nơi đã giam cầm mình trong 14 năm, nơi bao đồng đội của ông đã ngã xuống “Vốc lên nắm cát máu tù còn hoen...” với mong ước xây dựng Côn Đảo thành một nơi tươi đẹp. Vậy nhưng, tại nơi đây, ông đã gặp phải những đắng cay trong thời bình. Côn Đảo, nơi ông chiến đấu 14 năm với kẻ thù mà không khuất phục, nay, bão gió ập xuống đời ông với một án kỷ luật bị treo suốt mấy năm liền.

Một làn khói mờ sương thoáng qua ánh mắt ông khi kể về những chuỗi ngày gian khó ấy. “Tôi chỉ có thể nói được đến thế. Đó là những chuyện đã qua, là quá khứ không mấy ngọt ngào. Nhưng trong những lúc như thế, tôi vẫn tin vào một ngày mai tươi đẹp”.

(Các cựu chiến binh thăm lại Côn Đảo)

Với MTTQ ViệtNam, ông cũng có rất nhiều kỷ niệm. Năm 1977, ông đi dự Đại hội MTTQ Việt Nam với tư cách là Chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, uỷ viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam. Năm năm sau, ông là uỷ viên Đoàn Chủ tịch kiêm Phó Tổng thư ký UBTƯ MTTQ ViệtNam. Thế sự xoay vần, năm 1989, một lần nữa ông trở về UBTƯ MTTQ Việt Nam nhưng chỉ là một chuyên viên cao cấp, không chức danh, không quyền lực. Hình như, ông có duyên với Mặt trận.

Đó là nơi bình yên cho ông khi bão tố thời bình ập xuống đời người tử tù kiên trung, cốt cách. Ông về UBTƯ MTTQ ViệtNam, kiên nhẫn chờ đợi sự đánh giá, nhìn nhận công tâm của cấp trên. Năm 1994, án kỷ luật treo lơ lửng trên đầu ông được hoá giải, ông không có lỗi, ông được điều về làm Phó Ban Tôn giáo Chính phủ. Năm 1997, ông trở thành Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ và giữ chức vụ đó suốt 7 năm liền.

“Ba đặt tên con là Tự Do. Vì đời ba lao tù cay đắng” Cuộc sống đã bù đắp cho ông sau nhiều mất mát, thương đau. Em gái người bạn tù Côn Đảo ngày nào  nay trở thành tình yêu lớn trong đời ông, là người cùng ông viết lên bài ca hạnh phúc. Khi cậu con trai cả chào đời, ông sung sướng reo lên bằng lời hát “Ba đặt tên con là Tự Do. Vì đời ba lao tù cay đắng”.

(Tượng đài Tổ Quốc Ghi Công Côn Đảo)

Cô con gái được ông đặt tên là Lê Quang Hạnh Phúc. Tất cả những khát khao của người tử tù năm xưa thể hiện ở những cái tên của các con ông. Ông mỉm cười bảo: Ông trời công tâm lắm. Lấy của ta cái này sẽ đền bù cho ta cái khác. Tôi tự nhận mình là người có hậu vận tốt. Hậu vận của tôi là vợ, là con.

Sau khi nghỉ hưu, ông được lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế mời về quê. Năm 2006, một “Nhà lưu niệm Lê Quang Vịnh” ở phường Kim Long, TP Huế được khai trương, trưng bày nhiều hiện vật đặc biệt: Chiếc còng chân tử tù do Bảo tàng Côn Đảo tặng ông, một chiếc giỏ mây của người bạn tù tặng mẹ ông khi bà cụ ra Côn Đảo thăm con, một bức tranh thêu hình ảnh Bác Hồ của người bạn tù tên Mười Còm, ... “Nhiều người không muốn gợi lại quá khứ, bởi quá khứ đó rất vinh quang nhưng cũng có quá nhiều mất mát, thương đau.

Nhưng “Nhà lưu niệm Lê Quang Vịnh” vẫn là địa chỉ tìm đến của nhiều người khi tới thăm thành phố Huế, thưa ông?”. Ông cười, nụ cười điềm đạm và đôn hậu: Mười bốn năm tôi và nhiều đồng đội bị cầm tù ở Côn Đảo, chịu sự tra tấn dã man của kẻ thù.

Chúng tôi vượt qua tất cả những điều ấy không phải để mong một ngày ai đó vinh danh. Tôi cũng không có ý định nói về mình, nhưng bà xã khiến tôi vô cùng bất ngờ và xúc động khi gom nhặt, cất giữ tất cả các kỷ vật của chồng. “Nhà lưu niệm Lê Quang Vịnh” là ý tưởng và mong muốn của bà xã cùng các con. Tôi trân trọng tình cảm của tôi và đồng đội, trân trọng những gì vợ con mong muốn nên mới có “Nhà lưu niệm Lê Quang Vịnh”.

(Phòng Lưu niệm Lê Quang Vịnh)

Chiến tranh đã lùi xa. Ký ức của nhân dân Việt Nam, của “huyền thoại Côn Đảo” Lê Quang Vịnh về những năm tháng tại Chuồng Cọp không hề phai nhạt, nhưng, tất cả đều đã trở thành quá khứ. Ngày hôm nay, con trai ông đang du học bên Mỹ để bảo vệ luận án thạc sỹ về báo chí. Đầu tháng 10/2009, cô con gái Lê Quang Hạnh Phúc cũng lên đường sang Úc du học để bảo vệ luận án thạc sỹ về quy hoạch kiến trúc.

Huế mộng mơ chỉ còn ông và tình yêu lớn của đời mình, bà Trần Thị Kim Khánh. Qua điện thoại, ông cười bảo tôi rằng: “Chỉ còn hai người già thôi. Tự Do, Hạnh Phúc đã đi theo tiếng gọi của tri thức rồi. Hy vọng với những gì tiếp thu được, các con tôi sẽ trở về tiếp tục góp phần xây dựng quê hương, nơi ba chúng và đồng đội đã đổ bao máu xương để gìn giữ”.

 

Phạm Hằng

Bình luận (0)