Nhạc sĩ - Hoàng Việt

                                                 
Quê nội ở huyện Phước Lễ, Bà Rịa - Vũng Tàu, miền “hào khí” Đồng Nai. Quê ngoại ở Cá Bè Tiền Giang, nhưng Lê Trí Trực (tên thật của nhạc sỹ Hoàng Việt) sinh ra ở Chợ Lớn- đó là năm 1928. Ông có năng khiếu và đam mê âm nhạc nên sáng tác từ khi còn ít tuổi, năm 1944 đến 1945, ông đã có các ca khúc Chị cả, Biệt đô thành. Trong những ngày Nam Bộ kháng chiến, ông mang theo một số bài hát trong đó có Tiếng còi trong sương đêm với bút danh Lê Trực từ Sài Gòn ra chiến khu, song bị nghi là "phản động" nên bị bắt giam và đưa đi lao động cải tạo 3 tháng. Nhờ có người bảo lãnh nên sau đó ông được tha, về làm việc tại tổ quân nhạc. Đó cũng là thời gian ông lấy bút danh Hoàng Việt Hận để sáng tác. Sau này ông mới bỏ chữ "Hận", thành bút danh Hoàng Việt.

Lên ngàn - (Hoàng Việt) - Diệu Thúy


Những tác phẩm của nhạc sỹ Hoàng Việt đã góp vào một giọng điệu không trộn lẫn với bức tranh âm nhạc Nam Bộ kháng chiến. Những ca khúc của Hoàng Việt trong sáng mà đậm đà, sâu lắng, mang tính chiến đấu sắc bén nhưng không căng cứng, lên gân.
Bao trùm lên tất cả là tình yêu chan chứa, nghị lực và niềm tin, lạc quan hy vọng Ca khúc của Hoàng Việt mang đậm hơi thở của cuộc sống và chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ trong những ngày kháng chiến chống Pháp:
 Từ những năm học trung học ở Sài Gòn, lúc mới 16, 17 tuổi, Lê Chí Trực với bút danh Lê Trực đã viết những ca khúc như “Chị Cả”, “Biệt đô thành”“Tiếng còi trong sương đêm”,trong đó ca khúc theo điệu tango “Tiếng còi trong sương đêm”qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Vân những năm 1944-1945 được người dân Nam Bộ rất yêu thích:
Bến nước gió rét đò đưa khách sang
Lau xanh ven sông mờ rung bóng trăng
Đêm nay không gian chìm trong giá băng…
Mà đoàn hùng binh âm thầm xông lướt trong sương…
Khi ra đi có hứa thu nay về
Mà hôm nay lá thu đã rơi tràn

                                                                     
Sau đó ông làm việc tại Đoàn Văn công Trung Nam Bộ, đóng ở Đồng Tháp Mười. Năm 1951, Hoàng Việt được cử về Đoàn Văn công phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Vừa chiến đấu, Hoàng Việt vừa viết hàng chục bài hát, như Sở Thương Giang (1945), Lá Xanh (1950), Ai nghe chiến dịch mùa xuân (1950), Tin tưởng (1951), Mùa lúa chín (1952), Đêm mưa dầm (1951), Lửa sáng (1951), Nhạc rừng (1952), Lên ngàn (1953)... Trong số những bài hát ấy, nổi bật nhất và có giá trị lâu bền nhất là các bài hát Lá xanh, Nhạc rừng, Lên ngàn.

Bài Lá xanh gợi lên một không khí hào hùng, sôi nổi của tuổi trẻ Nam Bộ hăng hái đầu quân giết giặc những năm đầu và giữa cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài Nhạc rừng lấy cảm hứng từ cuộc sống chiến đấu hết sức gian khổ mà phơi phới, hồn nhiên của chiến sĩ miền Đông Nam Bộ. Có thể ít nhiều, tác giả đã thi vị hóa cuộc sống ấy nhưng làm sao khác được khi mà giữa trăm ngàn thiếu thốn nơi rừng sâu, người chiến sĩ vẫn thật sự rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, với tiếng chim "cúc cu", với dòng suối róc rách, với tiếng lá lao xao, để rồi tự hào được làm người lính bảo vệ những cái đó. Lên ngàn là tác phẩm được viết ra trong một hoàn cảnh đặc biệt: Bão lụt miền Đông năm 1953, cây rừng gục đổ ngổn ngang, bộ đội hành quân lên Châu Thành để giúp đồng bào khắc phục hậu quả, gay go, khốc liệt, cùng một lúc diễn ra ở cả trận tuyến và hậu phương. Nhưng bài ca ấy vút lên những âm thanh trong trẻo:

"... Em đi cắt lúa trên ngàn
còn anh chiến đấu sa trường
Kháng chiến nhất quyết thành công
mai ngày kháng chiến thành công
anh về, em thỏa lòng ước mong!"
Và quả như lời tiên đoán ấy, chỉ một năm sau tin vui truyền đi khắp nước: Giặc Pháp đã thất bại đau đớn ở Điện Biên Phủ, Chính phủ Pháp đành phải ký với ta Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, nửa đất nước phía Bắc đã được giải phóng... mở ra một trang sử mới.

Năm 1954, ông tập kết ra Bắc và học Trường Âm nhạc Việt Nam khóa đầu tiên (sau này là Nhạc viện Hà Nội).
                                                                      

Bến nước Cửu Long còn đó em ơi!
Biển lúa nương dâu còn mãi muôn đời
Là còn duyên tình ta thắm trong tiếng ca không thể xoá nhoà...
Giữ lấy đức tin bền vững em ơi
Giữ lấy trái tim đòi sống yêu đời
Là một bài tình ca của đôi lứa ta dâng cả bao người
Ngay sau khi ra đời, “Tình ca” đã được ca sĩ Quốc Hương, người bạn thân từ chiến trường Nam Bộ của Hoàng Việt, thu thanh, phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam làm ngây ngất thính giả trong và ngoài nước. Tuy vây, thật khó tin khi bản tình ca tha thiết, mạnh mẽ nhường ấy lại bị một số quan chức văn hoá và cả một số văn nghệ sĩ phê phán là bi luỵ, yếu đuối và lập tức bị lưu kho. Mãi đến hơn 10 năm sau, sau khi Hoàng Việt trở về miền Nam chiến đấu, sáng tác và hy sinh, “Tình ca” mới được phổ biến trở lại. Từ đấy, “bài tình ca của đôi lứa ta dâng cả bao người”của Hoàng Việt đã cất cánh
bay đến với các thế hệ người Việt ở mọi phương trời, trở thành khúc tình ca được cả dân tộc ca hát trong hơn nửa thế kỷ qua, cả trong chiến tranh cũng như giữa thời bình, cả trong đau khổ và hạnh phúc. Với sức chinh phục vô song và khả năng thức tỉnh, nâng mọi tâm hồn vươn đến những điều cao đẹp, thánh thiện, “Tình caxứng đáng được coi là biểu tượng của âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20 như có người đề nghị.
                                                                 
Và bản giao hưởng đầu tiên của âm nhạc Việt Nam
Năm1958, Hoàng Việt được Đảng và nhà nước cử sang học tập tại Nhạc viên Sofia, Bulgari. Đến cuối năm 1964 ông tốt nghiệp hạng ưu tú tại đây với bản giao hưởng số 1 của ông, cũng là bản giao hưởng đầu tiên của âm nhạc Việt Nam, bản giao hưởng mang tên “Quê hương”.Sau 7 năm tu nghiệp tại một nhạc viện lớn của châu Âu, người nhạc sĩ tự học từ đô thành Sài Gòn năm xưa đã nỗ lực vươn lên làm chủ được thể loại giao hưởng, thể loại âm nhạc được coi là lớn nhất và khó nhất của âm nhạc hàn lâm thế giới, “một trong những biểu hiện rực rỡ nhất của sự trưởng thành về tinh thần của loài người”như nhận định của giới mỹ học châu Âu.
Giám đốc Nhạc viện Sofia từng tự hào đánh giá: Bản giao hưởng của Hoàng Việt không phải là một tác phẩm tốt nghiệp mà thật sự là một tác phẩm lớn... Đó là một thành công rực rỡ của âm nhạc Việt Nam". GS Ca Lê Thuần cũng cho rằng giao hưởng Quê hương của Hoàng Việt đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của nền âm nhạc Việt Nam dân tộc hiện đại, là giá trị tinh thần sống mãi với đất nước.
Hoàng Việt tâm sự: "những ký ức quê hương""trách nhiệm của một công dân" đã giúp ông viết nên bản giao hưởng với lời đề tặng "Kính dâng Nam Bộ trong cuộc chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm"...
“Quê hương” là bản giao hưởng sử thi đồ sộ gồm 4 chương, với những hình tượng âm nhạc phong phú khắc hoạ cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Tác giả đã sử dụng chất liệu từ những bài hát cách mạng và dân ca để làm các chủ đề, được phát triển nhuần nhuyễn với những cảm xúc sáng tạo tinh tế và một bút pháp khá điêu luyện.

                                                                     
Chương I diễn tả không khí những ngày Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, được viết dưới hình thức sonate với các chủ đề lấy từ các ca khúc “Hội nghị Diên Hồng”, “Lên đàng” của Lưu Hữu Phước, Nam Bộ kháng chiến” của Tạ Thanh Sơn, “Chiến thắng Điện Biên” của Đỗ Nhuận.
Chương II mang tính chất trữ tình, miêu tả quê hương từ chiến tranh chuyển sang những ngày hòa bình, được viết dưới hình thức ronto với các chủ đề lấy từ “Lên ngàn”, “Mùa lúa chin” (Hoàng Việt), “Kỵ binh Việt Nam” của Lê Yên, Cây trúc xinh”,dân ca quan họ Bắc Ninh và “Quê tôi giải phóng” của Văn Chung.
Chương III là chương nhanh, kịch tính, nhằm miêu tả cuộc kháng chiến chống Mỹ, được viết dưới hình thức sonate, bao gồm các chủ đề phát triển từ bài Giải phóng miền Nam” của Lưu Hữu Phước, “Đợi chờ”, dân ca Tây Nguyên và “Lên đàng”.Trong chương này, âm nhạc mang tính căng thẳng, kịch tính cao độ để thể hiện cuộc chiến tranh một mất một còn, cuối cùng phần tái hiện mang âm hưởng hai bài Lên đàng“Giải phóng miền Nam” biểu hiện quyết tâm chiến đấu và chiến thăng kẻ thù xâm lược.
Chương IV mang âm hưởng vui tươi, rộn rã, thể hiện niềm vui khi đất nước giành được độc lập tự do. Chương này được xây dựng với hình thức 3 đoạn phức cùng phần coda trang trọng, hoành tráng, có sự tham gia của dàn hợp xướng thể hiện ước mơ được sống trong hạnh phúc thanh bình của dân tộc.
Trong năm 1964, giao hưởng “Quê hưong”đã được biểu diễn ba lần tại thủ đô Bugari: lần thứ nhất trong dịp Hoàng Việt thi tốt nghiệp với Dàn nhạc Nhạc viện Sofia và hai lần nữa để phục vụ công chúng với Dàn nhạc Giao hưởng Bugari. Dàn nhạc Giao hưởng Bungari cũng đã thu thanh giao hưởng “Quê hương” để phát trên đài phát thanh Quốc gia.
Tại Việt Nam, khi Hoàng Việt trở về Hà Nội, bản giao hưởng này cũng đã được Nhà hát giao hưởng hợp xướng nhạc vũ kịch Việt Nam và hai danh ca Quốc Hương, Vũ Dậu dàn dựng, công diễn cùng bản giao hưởng số 5 của nhạc sĩ vĩ đại người Nga P.I.Tchaikovsky vào ba đêm 26, 27, 28 tháng 3 năm 1965 tại Nhà hát Lớn Hà Nội dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng, nghệ sĩ công huân Triều Tiên Ly Hiơng Un. Đó là ba đêm nghệ thuật không thể nào quên không chỉ với Hoàng Việt mà cả với người hâm mộ và giới âm nhạc hàn lâm Việt Nam…
Tôi nhớ mãi ấn tượng về Hoàng Việt khi ông đến sống tại khu nhà 87B LýThượng Kiệt, Hà Nội. Đây là khu nhà dành cho các văn nghệ sĩ miền Nam tập kết gồm nhà thơ Bảo Định Giang, các nhà văn Khương Minh Ngọc, Nguyễn Quang Sáng, Xuân Vũ, hoạ sĩ Nguyễn Tấn Hưng, nghệ sĩ điện ảnh Nhị Hà và ba tôi, nhà nghiên cứu Mịch Quang. Đầu năm 1965, khi Hoàng Việt từ Bungari về nước, nhà thơ Bảo Định Giang, Phó Tổng thư ký phụ trách văn nghệ miền Nam của Liên hiệp các hội VHNTVN, đã cùng gia đình dọn đến trong cơ quan 51 Trần Hưng Đạo, nhưòng căn phòng lớn của gia đình
tạị đây cho nhạc sĩ đồng hương Tiền Giang tài năng đến ở để có điều kiện sáng tác. Khi ấy, tôi là một cậu học sinh lớp 9 mê nhạc cổ điển, rất tự hào khi biết người nhạc sĩ nổi tiếng của những “Lên ngàn”, “Nhạc rừng” và giao hưởng “Quê hương” đến ở trong khu nhà mình. Hằng ngày, Hoàng Việt hầu như chỉ ở trong căn phòng của ông và tôi luôn được nghe tiếng đàn piano vọng ra từ đấy, chỉ thỉnh thoảng tôi mới thoáng thấy bóng ông ra ngoài với vóc dáng mình hạc xương mai và mái tóc bạc trắng.
Với tôi, Hoàng Việt gần thật đấy mà cứ xa xôi huyền hoặc như là một ông tiên trong cổ tích. Tôi không hề biết ông tiên tóc bạc trắng này chỉ mới 37 tuổi. Ít lâu sau, nhạc sĩ Văn Cận sau khi tu nghiệp ở Trung Quốc về, đã đến ở với ba con tôi và tôi đã đôi lần theo nhạc sĩ Văn Cận vào chơi với nhạc sĩ Hoàng Việt trong căn phòng của ông. Được đối diện thật gần với Hoàng Việt, tôi thấy ông không già như tôi tưởng, ông có đôi mắt thật sang và nụ cười thật hiền từ.
Nghe Hoàng Việt và Văn Cận trò chuyện, tôi biết hai nhạc sĩ của “Tình ca”“Giữ trọn tình quê” khi tập kết đều để lại vợ con ở miền Nam, nay đều có nguyện vọng trở về Nam chiến đấu, sáng tác mong có cơ hội sum họp gia đình và nguyện vọng đó đã được cấp trên chấp thuận. Bên cây đàn piano, Hoàng Việt và Văn Cận đã đàn và hát cho nhau nghe các sáng tác mới chuẩn bị cho chuyến hồi hương thiêng liêng, Hoàng Việt với bài “Giết giặc Mỹ cứu nước”còn Văn Cận có bài Mẹ ơi! Con sẽ trở về.

                                                    
Mẹ ơi! Con sẽ trở về”.
Thời gian này, chị tôi sau khi tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp đã xung phong về miền Nam được hơn một năm. Trong thư chị gửi ra cho gia đình, tôi được biết chị tôi đã phải mất hơn hai tháng trời vượt qua hàng ngàn cây số đèo dốc Trường Sơn mới về được đến quê hương. Nhìn Hoàng Việt và Văn Cận, tôi thầm nghĩ không biết hai ông sẽ làm thế nào để vượt Trưòng Sơn, khi Văn Cận thì cận thị rất nặng còn Hoàng Việt thì quá mảnh khảnh, gầy guộc…Sau tết 1966, tôi không còn được gặp Hoàng Việt và Văn Cận tại khu nhà 87B Lý Thường Kiệt Hà Nội nữa, hai ông đều đã lên đường…
Cửu Long – Bản giao hưởng dang dở
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng, trưởng đoàn văn nghệ sĩ đi chiến trường Nam Bộ đầu năm 1966 kể rằng ông và các văn nghệ sĩ trong đoàn không ai nghĩ rằng Hoàng Việt có khả năng vượt nổi Trường Sơn bởi thấy ông quá ốm yếu. Trên đường Trường Sơn, Nguyễn Quang Sáng luôn bố trí Hoàng Việt đi đầu khi hành quân nhưng bao giờ ông cũng là người cuối cùng đến trạm, rất lâu sau khi mọi người đã đến đã nấu cơm và ăn cơm xong, khi cả đoàn đã lên võng ngủ Hoàng Việt mới lủi thủi một mình lặng lẽ nhóm
bếp nấu cơm. Có lần, Hoàng Việt bị lật cổ chân, chân sưng to, mưng mủ, đoàn muốn gửi ông lại trạm để dưỡng bệnh nhưng ông vẫn cắn răng lết theo đoàn, kể cả khi phải mang thêm hơn 10 cân gạo ăn đường trong cái ba lô đã nặng gần bằng trọng lượng 42 kg người ông. Cứ thế, sau hơn ba tháng, Hoàng Việt vẫn theo kịp đoàn để về đến quê hương trong sự kinh ngạc của mọi người.
Toại nguyện về với quê hương, bất chấp đói khổ, ác liệt, ngay trên chiến khu, song song với việc đào hầm, cất nhà, tải gạo, với bút danh mới Lê Quỳnh, Hoàng Việt đã say sưa sáng tác với năng suất chưa từng có. Từ cuối năm 1966 đến giữa năm 1967, ông đã hoàn thành 12 ca khúc và vở nhạc kịch “Bông sen” kể chuyện anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Lịch với 102 trang phần đệm piano để gửi ra miền Bắc.
Ông còn viết nhạc cho hai điệu múa của Văn công R, rồi chuyển “Bông sen” từ thể loại lớn opera thành một nhạc cảnh nhỏ để Văn công R có thể biểu diễn phục vụ tại chiến trường. Trong lá thư viết cho nhạc sĩ Đỗ Nhuận tháng 5/1967, Hoàng Việt nói với Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam rằng dù rất tích cực sáng tác phục vụ kip thời nhưng ông vẫn  không quên dồn tâm sức sáng tác những tác phẩm lớn góp phần đánh dấu giai đoạn tiến triển mới của âm nhạc cách mạng miền Nam.

                                                                    
giao hưởng mang tên Cửu Long” .
Hoàng Việt còn bày tỏ với nhạc sĩ Đỗ Nhuận khát vọng đưa âm nhạc cách mạng thâm nhập sâu vào đời sống tinh thần của người dân miền Nam để thay thế loại tân cổ tạp nham cũng như thứ  nhạc dance ỉ eo than khóc mị dân của Phạm Duy hoặc loại nhạc điện tử làm ô uê thích giác người nghe của đám nhạc trẻ sa đoạ Sài Gòn…
Sau niềm hạnh phúc to lớn được đón người vợ yêu thương và ba đứa con từ Sài Gòn ra chiến khu sum họp gia đình sau hơn 13 năm xa cách trong dịp têt 1967, Hoàng Việt lại bắt đầu một thử thách mới. Ông xin tổ chức cho rời chiến khu về với vùng đất ven bờ Cửu Long, vùng chiến sự ác liệt, để lấy cảm hứng thực hiện dự án sáng tác lớn ông hằng ôm ấp: bản giao hưởng số 2 của ông, giao hưởng mang tên “Cửu Long” .
Theo Hoàng Việt, đây sẽ là giao hưởng có 3 chương: Chiến thắng, hạnh phúcxây dựng.Và ông đã lên đường về Cao Lãnh, Tiền Giang men theo đường số 4 và bờ sông Cửu Long để tìm hiểu thêm những điều Hoàng Việt gọi là “những khía cạnh đặc biệt” nơi dòng sông vĩ đại của quê hương. Cuối năm 1967, sau những ngày tháng băng đồng, qua lộ, chịu bom pháo, Hoàng Việt đã đặt chân về đến quê mẹ Tiền Giang, đã đến rất gần với sóng nước Cửu Long.
Nhưng ngay trên bờ kênh Ả Rặt, làng Mỹ Thiện, huyện Cái Bè, Tiền Giang, trong buổi sáng cuối cùng năm 1967, sáng 31 tháng 12, Hoàng Việt và những người cùng đi bất ngờ bị máy bay Mỹ tập kích. Hoàng Việt bị trúng đạn rốc két của kẻ thù. Ông hy sinh, thân xác hoà tan trong con kênh chảy ra dòng sông Cửu Long. Khi ấy, Hoàng Việt mới vừa qua tuổi 39. Và bản giao hương số 2 của đời ông, giao hưởng “Cửu Long”,mãi là bản giao hưởng dang dở…

(ST)

Bình luận (0)