Nhạc sĩ Tô Vũ

Nhạc sĩ Tô Vũ tên thật là Hoàng Phú, ông chính là em ruột của nhạc sĩ Hoàng Quý, người nhạc sĩ mà hầu hết chúng ta được biết đến với các tác phẩm “Cô láng giềng”, “Cảm tử quân”. Cái tên Tô Vũ có thể nói là một giai thoại, tôi có tự đặt cho tôi cái tên Tô Vũ đâu.
Hồi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, anh tôi mất ngày 26/6/1946, đến ngày 19/11 thì tôi phải chạy sang Kiến An, lúc đó tôi vẫn ở Hải Phòng. Nếu anh tôi không mất vào ngày đó, có lẽ tôi sẽ không phải là Tô Vũ, mà sẽ là cái gì đó.  Tôi có 4 học bổng đi học ở Pháp, khi anh tôi mất, tôi phải về để lo cho các em.
Tôi xin vào dạy hợp đồng ở trường Bình Chuẩn, thành phố Hải Phòng. Lúc đó, có mấy ông bạn ở Hà Nội là Văn Cao, Nguyễn Đình Thi xuống Hải Phòng, các ông ấy đều để râu. Nguyễn Đình Thi ghé tai tôi bảo “học tập Bác Hồ”. Văn Cao lại bảo “Phú ạ, cậu mà làm giống chúng tớ thì cậu sẽ giống Bác nhất đấy, ở chỗ là râu của cậu mọc rất nhanh”. Thế là tôi bắt chước 2 ông bạn thân và cùng mặc bộ quần áo nâu. Hồi ấy mưa, chống cái gậy, tự  nhiên có một ông đem cho tôi cái nón ở Sơn Tây, nửa tháng sau râu tôi đã lên được 2 – 3 cm, mọi người nói rằng ăn vận như vậy trông tôi rất giống ông Tô Vũ chăn dê ở trong cái lọ độc bình.

Nhớ ơn Hồ Chí Minh - (Tô Vũ) - Tốp ca nữ Đài TNVN


 Lúc đó, một người bạn nói rằng: “anh Phú phải lấy một cái tên khác, bí danh đi thôi”. Tôi hỏi: ”Bí danh là cái gì”?. Tự nhiên lại nhớ một ông có tên là Minh, Minh là sáng, Vọng là vọng nhìn xa, nhìn ra ánh sáng thấy nó sáng. Tôi bảo “lấy tên là Hoàng Minh Vọng có được không?”. Người bạn đó tán thành và còn khen đẹp. Tôi lấy tên Hoàng Minh Vọng được nửa tháng, ra đường, đi các nơi mọi người cứ “ơ ơ, ông Tô Vũ chăn dê vào đây hội nghị một bài”, thành ra tôi phải vào hát bài “Đồng vọng”, lúc đấy nổi tiếng lắm. Lúc đó, đi đâu cũng bị gọi “Tô Vũ chăn dê vào đây, vào đây”, tôi tức lắm, bảo “tôi là Hoàng Minh Vọng”.
Đến năm 1947, tên Hoàng Minh Vọng mất biến, chẳng ai gọi tôi là Hoàng Minh Vọng mà gọi tôi là Tô Vũ. Năm 1948, tôi lên họp Đại hội văn hoá, văn nghệ toàn quốc thứ nhất, tôi là đại biểu duy nhất của chiến khu 3. Một ông rất nhanh nhảu, giới thiệu tôi là nhạc sĩ Tô Vũ, chiến khu 3 lên hát một bài. Tôi lên hát bài “Đồng giao cống huyền”. Xuống sân khấu tôi rất hậm hực và khó chịu vì đã giới thiệu là Hoàng Minh Vọng mà vẫn bị gọi là Tô Vũ.
Tôi đem chuyện này nói lại với người ngồi bên cạnh (sau này tôi mới biết đó là Thế Lữ). Thế Lữ trầm ngâm một lúc rồi bảo “đây là tên nhân dân đặt cho anh, cái tên này sẽ đứng vững hơn nhiều so Minh Vọng, Minh viếc lôi thôi lắm, thôi thì anh bỏ cái Hoàng Minh Vọng đi”. Đấy, Tô Vũ là từ đó, chứ không phải tự tôi đặt đâu.
- Ông cụ tôi rất tài hoa, ông hát rất hay, cả tiếng Tây. Khi mẹ tôi mất, tôi 13 tuổi, Hoàng Quý 16 tuổi, bố tôi làm ở xa, hàng tháng chi viện tiền về nuôi 4 anh em tôi. Mấy anh em tôi cùng say mê nhạc, thế là đi tìm học. Chúng tôi violon chính quy của một bà đầm, bà ấy là chủ cửa hàng bán nhạc phẩm. Một giờ học mất 4 đồng bạc Đông Dương, lúc bấy giờ 2 đồng được 1 tạ gạo, đắt như thế đấy. Bốn anh em vẫn quyết định học, mỗi anh góp 1 đồng. Học xong 15 phút của mình, thì đứng lại học ké, kẽo kẹt được đến 6 tháng chúng tôi học xong cơ bản.
Lúc ra kháng chiến may quá tôi gặp Tạ Phước và được chỉ bảo thêm. Còn ghita là tự học lấy. Nhóm Đồng Vọng sinh ra từ phong trào hướng đạo sinh do anh Hoàng Quý, tôi, Canh Thân, Phạm Ngữ lập ra với ý nghĩa như là tiếng gọi tập hợp thanh niên lại với nhau. Mình vì mọi người, giúp đỡ mọi người, vì dụ Tổ Quốc, yêu dân tộc.
Từ phương châm này, nhóm Đồng Vọng đã góp phần cổ suý cho nền tân nhạc Việt Nam. Năm 50, TW thành lập Viện Nghiên cứu văn hoá nghệ thuật mà trong nghệ thuật thì có 4 ngành văn, hoạ, nhạc, kịch… Phần nhạc giao cho Văn Cao làm trưởng ban. Văn Cao về tài năng thì tuyệt vời, nhưng về kiến thức nghệ thuật nhất là lý luận nghệ thuật không cao siêu. Văn Cao gặp tôi và nói “Tô Vũ ơi ở lại đây với mình, chúng ta sẽ làm nhiệm vụ nghiên cứu về âm nhạc. Ở đây tớ rất cần cậu”. Thế là tôi ở lại. Vấn đề đặt ra là nghiên cứu cái gì? Chúng tôi quyết định đặt mục tiêu nghiên cứu cả nhạc và kịch, rất dân tộc lại vừa nông dân, đủ các thứ, kết nạp hết.  Mấy năm đầu chúng tôi chỉ nghiên cứu chèo cổ Việt Nam và ghi đến gần 200 làn điệu chèo. Từ cơ sở đó tôi đưa tôi đến chỗ ngôn ngữ âm nhạc truyền thống của Việt Nam như thế nào? khác Trung Quốc ở chỗ nào? Chúng tôi thấy xuất phát điểm của mình quá trúng. Đi vào âm nhạc chuyên nghiệp mà lại âm nhạc chuyên nghiệp dân gian.

(Nguồn: vov.vn)

Bình luận (0)