Nhật Lai - Nhạc sĩ của Tây Nguyên

                                                    

Như cánh chim Kơ Tia

Nhật Lai, tên thật là Nguyễn Tuân, sinh ngày 12-5-1931, tại Tuy An, tỉnh Phú Yên

Sáng tác đầu tay của nhạc sĩ Nhật Lai là bài hát viết cho quê hương Chiều trên cầu Bồng Sơn (1948). Cảm xúc trước cảnh đập Đồng Cam bị tàn phá và nạn đói ở quê nhà đã dẫn đến Cǎm thù thằng Tây cướp mùa lúa đen, một bài hát ngấm sâu vào lòng người Phú Yên những nǎm kháng chiến chống Pháp.   

Lớn lên trong một đại gia đình nhiều người tham gia cách mạng và thoát ly đi kháng chiến, bản thân lại mê kiếm hiệp, sẵn máu anh hùng cá nhân, luôn tự thân tồn tại, chàng nhạc sĩ tuổi mười tám đã tình nguyện vào vùng địch hậu Đắc Lắc làm công tác tuyên truyền chống Pháp. Thế là sau Phú Yên - nơi sinh thành, nơi lưu truyền dòng máu mê ca nhạc cho Nhật Lai, Tây Nguyên đã trở thành quê hương thứ hai - miền đất khởi nguồn cho một dòng cảm hứng sáng tạo mãnh liệt trong nhạc sĩ.

Dung dị, ít nói, bộc trực, chân thành, quyết liệt..., những tính cách rất Tây Nguyên trong con người Nhật Lai đã đưa ông hòa nhập hết sức tự nhiên vào đời sống sinh hoạt và tinh thần của các dân tộc ít người. Đóng khố, hút tẩu, mang gùi, đi chân đất, sǎn bắn như một thiện xạ nhà nghề, thông thạo nhiều tiếng dân tộc - Ê đê, Gia rai, Bana, Hơ rê..., Nhật Lai hoàn toàn không khác dân thổ địa chính cống. Chẳng những có vẻ ngoài giống hệt người dân tộc, Nhật Lai còn mang trong mình cái hồn, cái tâm của một nghệ nhân dân tộc, ông đã nắm trong tay kho báu âm nhạc dân gian của các dân tộc vùng cao nguyên vào thời bấy giờ chưa được mấy ai quan tâm.

Thuộc hàng nghìn bài dân ca, viết hàng trǎm ca khúc bằng tiếng dân tộc, nghệ nhân hát rong Nhật Lai vừa đàn hát biểu diễn, vừa dạy hát tuyên truyền hết buôn này đến buôn nọ. Có lần, nhạc sĩ đưa một tốp độ chục người Ê đê về quê nhà biểu diễn, khiến cho bà mẹ hoảng hồn khi nhận thấy con trai mình bôi mặt đen thui, cũng đóng khố, đeo tên, nồng nhiệt hát múa trong đám người dân tộc.

Mùa xuân trên quê hương

Những tháng nǎm làm dân cao nguyên (1949-1954) đã để lại trong sáng tác Nhật Lai nhiều bài ca đặc chất núi rừng: Tǎm thơi, Chim Kơtia, Xuống chòi mau lên em!, Thương anh cán bộ, Đợi chờ, Tiếng cồng đêm ngừng chiến... Chưa hết, chất Tây Nguyên còn tiếp tục âm vang trong nhiều tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc ở các giai đoạn sau này của Nhật Lai. Tính cách Tây Nguyên ǎn vào máu, vào âm nhạc của ông, đến mức hàng chục nǎm sau vẫn có người lầm tưởng ông có gốc gác Tây Nguyên, hoặc bài hát của ông là dân ca Tây Nguyên. Quả thực nhiều nhạc sĩ đã sử dụng nét nhạc Tây Nguyên của Nhật Lai như khai thác chất liệu dân gian vậy.

Sống trên đất Bắc, Nhật Lai vẫn là một nhạc sĩ của Tây Nguyên với hàng loạt ca khúc: Suối đàn T'rưng, Chim lạc đàn, Chim Pông Kơle, Gửi Việt Bắc, Về buôn xưa, Xê bǎng hiêng hành khúc ca, Mùa xuân trên quê hương, Giữ lấy màu xanh, Tiếng hát Mơ nông Tibri, Câu chuyện bên dòng suối, Mặt trời Ê đê, Tôi gặp mẹ tôi...

Vốn là người chẳng sợ khó sợ khổ, Nhật Lai luôn đưa các mũi nhọn của đoàn vǎn công đến kịp thời phục vụ những nơi nước sôi lửa bỏng. Ông có mặt trong các chiến dịch chống hạn chống úng ở nông thôn, chống phỉ ở Hà Giang (1960) và chiến trường khu IV giữa lúc máy bay Mỹ bắn phá rất ác liệt (1965). Cảm xúc từ những chuyến đi thực tế được ghi lại trong nhiều bài ca: Đan lưới, Bài ca sông Nhật Lệ, Bài ca anh Hồ Giáo, Hà Tây quê lụa...

Là người đi đầu trong sưu tầm và biên soạn dân ca Tây Nguyên, kế thừa và phát triển vốn quý đó trong sáng tác, Nhật Lai tiếp tục đưa Tây Nguyên đến với những thể loại thanh nhạc lớn hơn ca khúc, như một loạt ca kịch và ca cảnh viết trong những nǎm 60-70: Ama Trang Lơng, Thử lửa, Hơ bia, Hơ On, Nữ thần mặt trời... Đó là những bước tiến dần đến Bên bờ Krông pa (1968) - đỉnh cao của ông trong lĩnh vực opéra.

Suối Đàn T"rưng.

Những dòng ghi chép từ nǎm 1957 cho biết nhạc sĩ đã nhắm trước cho mình cái đích phải đến và không ngừng trǎn trở để đạt được ước vọng đó: Tự luyện, tự học, tự nghiên cứu tìm tòi vốn cũ dân gian và kinh nghiệm quốc tế để tiến lên sáng tác nhạc kịch (opéra) là đỉnh cao nhất trong cuộc đời nghệ thuật của ta! Và ông đã trở thành người thứ hai, tiếp sau nhạc sĩ Đỗ Nhuận, đặt nền móng cho loại hình nghệ thuật tổng hợp này tại Việt Nam.

Tự học trong trường đời chưa từng qua khóa đào tạo chính quy nào ngoài những lớp sáng tác ngắn hạn của chuyên gia Liên Xô (cũ) và Triều Tiên, điều này không hề ngǎn cản Nhật Lai thể hiện một cách độc đáo bản lĩnh nghệ thuật của mình trong lĩnh vực nhạc không lời. Bản lĩnh ấy đã được nuôi dưỡng bởi tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào âm nhạc dân gian, vào những con người vô danh - được ông tôn làm thầy - đang nắm giữ và hồn nhiên lưu truyền vốn quý cho đời sau:

Ta đã học qua một trường đại học nghệ thuật lớn nhất trong thực tế, cho nên ta nói không hề biết sợ hãi.Bản lĩnh ấy đã đưa Nhật Lai vào hàng các nhà soạn nhạc tên tuổi của khí nhạc Việt Nam, qua các tác phẩm giao hưởng thính phòng như hòa tấu Vũ khúc Tây Nguyên, rhapsodie Tiếng cồng mùa xuân, ballade Tiếng trống đồng (1974), Giao hưởng số 1 Đất lửa (1982)...

Tiếng cồng mùa xuân,

Trong những nǎm phụ trách các đoàn vǎn công - Đoàn Vǎn công Tây Nguyên (từ nǎm 1954), rồi Đoàn ca múa miền Nam (từ nǎm 1961), Nhật Lai không chỉ gánh lấy vai trò biên đạo, mà còn dành nhiều tâm lực vào việc đào tạo diễn viên ca múa và biên đạo vũ kịch. Ông tỏ ra nhạy cảm tinh tường trong phát hiện những tài nǎng trẻ, không ít đệ tử của Nhật Lai sau này đã trở thành nghệ sĩ múa nổi tiếng, và cũng không ít nhạc sĩ biểu diễn và sáng tác người Tây Nguyên đã trưởng thành nhờ sự dẫn dắt của già làng Nhật Lai.

Nhạc sĩ phải yêu dân ca như yêu vợ của anh ta- sự so sánh trong quan niệm sáng tác của Nhật Lai phần nào cho thấy tình yêu dành cho dân ca cũng như cho vợ có ý nghĩa thế nào trong cuộc đời nhạc sĩ. Trời cho Nhật Lai gắn bó với dân tộc ít người trong sáng tạo nghệ thuật, trời cũng cho Nhật Lai mang nặng duyên phận với phụ nữ dân tộc trong cuộc đời riêng tư.

Hình ảnh người vợ đầu - Châu Ngọc Lệ, diễn viên múa dân tộc Khơ me - không may mất sớm, vẫn mãi mãi lưu lại trong chương Nước mắt của viên Ngọc (giao hưởng Đất lửa). Đến với người vợ sau - Hồ Thị Kha Y, ca sĩ người Vân Kiều, Nhật Lai vốn từ lâu được coi như người anh em ruột thịt của các tộc người Tây Nguyên, giờ đã chính thức có một quan hệ họ hàng với Tây Nguyên trong vai trò chàng rể.

                                               

Vũ Điệu Đại Ngàn

Cuối nǎm 1986, Nhật Lai được mời đến Riga (Latvi, Liên Xô cũ) tham dự một liên hoan âm nhạc giao hưởng. Không ngờ đó là chuyến đi cuối cùng trong đời người hát rong Nhật Lai. Có lẽ cái lạnh khắc nghiệt, lại thêm sự xúc động trước hiệu quả trình diễn giao hưởng Đất lửa ở nơi xa xôi ấy vô tình làm tổn hại nốt chút sức lực còn lưu lại trong cơ thể đã vắt kiệt mình cho lao động nghệ thuật của ông. Vừa trở về ông đã vội vã ra đi, ra đi vĩnh viễn vào một ngày đầu nǎm mới, 5-1-1987. 

Tân Linh

(Hình ảnh mang tính minh họa)

Bình luận (2)

  1. Người Nghe Nhạc
    Cách hành văn như thế còn là phổ biến bác ạ. 54 dân tộc đều là anh em, là tay chân của nhau. Có lẽ phải nhiều năm nữa mọi việc mới đơn giản và bình thường được...
  2. danmoi
    Bài viết có nhiều chi tiết đáng nhớ này sẽ hoàn hảo nếu không có những chữ, những câu kỳ thị, cũng là điều đáng tiếc.