Phụ nữ Miền Nam Anh hùng.

Bà Nguyễn Thị Định Tổng Tư lệnh các LLVTGPMN
Buổi đầu trở lại sân bay Lộc Ninh, chúng tôi đến ngay lán chị Võ Thị Thắng. Nhưng chị Thắng và các chị đã rời đi từ lâu. Những ghi chép của Văn Lê và những đoạn thơ của tôi ghi ở sân bay đành chỉ còn biết đưa lên báo chứ không kịp nhờ các “nguyên mẫu” rà soát lại cho chuẩn xác hơn. Ngày ấy, cánh viết chúng tôi đang rất tâm đắc với việc đưa thẳng những chất liệu sống vào trang văn.
          
Thành tựu văn học những thập kỷ 60,70 của thế kỷ XX với những trang văn thơ chiến trường; những tiểu thuyết tư liệu, kể cả ngoài nước như những cuốn viết về Chê-ghê-va-ra… hồi đó rất có sức lôi cuốn. Chưa có thời gian để viết kỹ, viết nhiều, thì cần phải ghi chép sao cho càng chi tiết, càng thật những năm tháng này càng tốt.
Biết đâu vài chục năm sau, thậm chí hàng trăm năm sau, sẽ có một ông L.Tônxtôi nào đó dùng đến để cho ra đời cỡ “Chiến tranh và hoà bình”… Chúng tôi chấp nhận một cách hết sức thoải mái khi làm những chiếc cầu phao kể cả khi phải vượt qua Cửu Long, Hồng Hà…- những dòng sông lớn!
Buổi đầu gặp chị Võ Thị Thắng, tôi và Văn Lê cứ bàng hoàng mãi về một chi tiết: chị chưa hề nhìn thấy bức ảnh chụp năm 1968 với nụ cười tuổi 20 bất tử của chị (và cũng là của cả một thế hệ trẻ Việt Nam) trước sự hung bạo của giặc… Tôi vội ghi:
Võ Thị Thắng: Những bức ảnh gắn với cuộc đời 'Nụ cười chiến thắng' - Ảnh 4

“Thắng đón chúng tôi bằng một nụ cười
Thắng gọi tôi bằng anh vì tôi ba mươi tuổi
Còn anh bạn của tôi hai mươi bốn tuổi
Ngay lời đầu Thắng đã “Chào em!”
Chúng tôi giới thiệu tên, mà không hỏi Thắng
(Chúng ta biết tên em từ rất lâu rồi!)
Nhưng rất hồn nhiên, Thắng tự mình giới thiệu: “Tên em là…”.
Kỳ lạ quá đi thôi!
Những năm tháng trong lao,
Thắng đâu biết
mọi người đều rất tỏ hình em
Tôi tặng em tấm hình với nụ cười đã bay quanh trái đất
Mặt Thắng hồng lên và rưng rưng nước mắt
Em chưa lần ngắm lại nụ cười em!
Đấy là ghi chép thơ có tên: “Gặp lại nụ cười”. Không hề biết sự nổi tiếng của tên tuổi và hình ảnh mình. Trước Võ Thị Thắng, tôi chợt nhớ tới một người phụ nữ trên đường Trường Sơn 1972. Chị đi viếng mộ chồng là liệt sĩ ở một vùng giặc vừa trải thảm B52, cũng ngay gần nơi địch đóng đồn- vùng giáp gianh tranh chấp. Chị đã có một cử chỉ đẹp tuyệt vời, rất hồn nhiên, hồn hậu, đã cho tôi một ghi chép hoàn toàn như sự thực đã xảy ra, thành bài “Viếng chồng”. Ghi-chép-thơ này, sau khi in đã được nhà thơ Vũ Quần Phương và năm nhà văn, bạn đọc bình trên các sách báo ở các năm 70, 80, 90 thế kỷ trước. Tôi xin chép lại y nguyên như trong nhật ký ngày đó:

- “Chị ơi!...” Chỉ gọi được thế thôi
Anh chiến sĩ đưa đường bỗng thấy nghẹn lời
Không làm sao anh còn nói nổi: “Chị đặt hoa nhầm rồi!
Mộ anh ấy ở bên tay trái
Chỉ có một vòng hoa chị mang từ quê lại
Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi”
- “Chị hiểu ý em rồi
Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó!
Cả khu đồi chỉ có hai ngôi mộ
Viếng mộ anh, có chị đến đây rồi!”
Trung thành với loại thơ-nhật-ký đó, trước khi xuống Trảng Bàng, vùng “Tam giác sắt” gặp chị Bẩy Hương chính trị viên đại đội nữ súng cối, cô gái với bộ quần áo giải phóng mầu rêu, cái mũ tai bèo, đẹp dịu dàng kín đáo như một nữ sinh trung học thuở nào, hay đúng hơn, như một nữ diễn viên điện ảnh ấy, đã bị thương dập nát bàn tay trái, đã thành một nữ anh hùng huyền thoại của một vùng chiến sự ác liệt nhất… tôi và Văn Lê đã nghe dọc đường người ta nói về chị. Và tôi ghi nhật ký gần như… thơ:
“Tôi nghe kể về em ở trung đoàn bộ binh
Tôi nghe kể về em ở những người du kích
Tôi đi suốt Trảng Bàng một mùa chiến dịch
Nhận những lời các má gửi thăm em”…
“Em như thế nào đây?
Bao lần tôi tự hỏi
Em dịu dàng hay em trang nghiêm
Tôi hình dung từ dáng đi, giọng nói
Tìm trong ký ức mình những nét thân quen
“Vẫn không sao hình dung ra em được
Tôi đi có một mùa, mà em sống mười năm!
Trảng Bàng ơi, những tháng ngày cay cực  
Máu ta rơi bầm đỏ mỗi căn hầm”…
“Ngỡ chỉ có cỏ thôi, không còn gì nữa đâu!  
Xích xe giặc trà lên, cỏ cũng không sống nổi
Trắng đất. Trắng trời.
Trắng đêm không ánh lửa
Em gái ơi, em đi về đâu?”…
Dìu dịu nụ cười, lóng lánh mắt đen
Chiều nao bên em thân quen mà vẫn lạ
Áo em mặc xanh một mầu cây lá
Dẫu là mầu của rừng quen thuộc nửa đời tôi!”…
Ghi chép như thế, sao xứng đáng với tầm vóc của những người anh hùng? Họ là những con người mà trí tưởng tượng bình thường không sao hình dung nổi. Thế thì cứ ghi lại chính cái sự… bất lực của tưởng tượng của mình vậy! Hồi ấy nhà thơ Lê Quang Trang cũng vừa về vùng “Tam giác sắt” để gây dựng lại những chi bộ bị tổn thất nặng ở An Tịnh; nhà văn Trần Văn Tuấn đang cùng đoàn hậu cần 235 áp sát mặt trận, khi tìm đến Trung đoàn 16 thăm tôi và Văn Lê, được xem qua những ghi chép này cũng động viên tôi theo cách những người thuộc “trường phái” văn chương “cầu tre, cầu phao” với những nổi cảm thông thật sự thân thiết. Có ai ngờ chỉ mấy tháng sau, Bẩy Hương đã hy sinh trên đường đi chiến dịch Tổng tiến công 1975. Chị bị rơi vào một ổ phục kích ngay trên một cánh đồng hoang Trảng Bàng bạt ngàn cỏ Mỹ và dây thép gai mà chúng tôi thường cũng đi qua!...
Ngày ấy ngỡ xa lắm rồi.
Có chi đâu mà nhắc lại
Ta đi dặm đường mê mải
Bao nhiêu mùa mưa, mùa trăng?
Mùa trăng em qua thung lũng
Bóng em điệp với bóng cây
Tôi có vầng-trăng-trao-động
Qua thung lũng với ngàn cây
Mùa mưa em về hậu cứ
(Dốc cao đến thắt ruột mình!)
Dốc nào cũng làm tôi nhớ
Mùa mưa ơi.
Nước trắng rừng!
Trắng rừng lạnh lùa cơn sốt
(Những cơn sốt chẳng chia mùa!)
Em đi.
Tiếng cười trong suốt
Lung linh một trời sao khuya…
(Ngày ấy)
Nhà thơ Trần Ninh Hồ.
( Hình ảnh mang tính minh họa)

Bình luận (0)