Sự thay đổi ngày mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ

 
(Sa bàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp-1954)

Không khó để biết rằng ngày 13 tháng 3 năm 1954 là ngày mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ, bắt đầu chuỗi 56 ngày đêm “Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” trong mưa bom bão đạn của bộ đội Việt Nam. Thế nhưng để ngày mở màn ấy trở thành ngày lịch sử, làm nên thành công bước đầu của chiến dịch, Bộ Chỉ huy của ta đã có những sự thay đổi, quyết sách đúng đắn, hợp lý đảm bảo nguyên tắc cao nhất mà Bộ Chính trị đã đề ra “đánh chắc thắng”, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, nức lòng nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Cuối tháng 11 năm 1953, một âm mưu đánh chiếm Điện Biên Phủ được Navarre - Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tiến hành, được coi là đòn quyết định để kết thúc số phận của Việt Minh trong khi cục diện chiến tranh của hai bên vẫn chưa có hồi kết. Một Tập đoàn cứ điểm mạnh được trang bị các loại vũ khí chiến tranh tối tân và một lực lượng quân chiến đấu hùng hậu được tăng cường ngày càng nhiều lên Điện Biên Phủ. Người chỉ huy quân đồn trú Pháp tại Điện Biên Phủ lúc bấy giờ là De Castries đã không tiếc tay biến Điện Biên Phủ thành cái bẫy khổng lồ, một “máy nghiền thịt” nhằm thu hút quân chủ lực Việt Nam đến đây để tiêu diệt. Chúng không ngừng “giương oai diễu võ” bằng các cuộc tập trận, thi thố giữa các cứ điểm hay hênh hoang trên báo chí về sức mạnh, tính bất khả xâm phạm của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và rải truyền đơn vào những vùng nghi là căn cứ của Việt Minh để thách thức đối phương tấn công.

Về phía Việt Minh, sau khi nắm được âm mưu mới của Thực dân Pháp, những điều bất đắc dĩ mà trước đó không hề có trong Kế hoạch Nava, quân ta đã chấp nhận giao chiến tại Điện Biên Phủ một cách có chủ đích trong diễn biến có lợi cho ta. Hướng lên Tây Bắc về cơ bản là nằm trong dự đoán, cũng không mấy khó khăn khi đó là Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị đã nghiên cứu kỹ chiến trường, một kế hoạch tỉ mỉ và những bước chuẩn bị không thể tốt hơn để bắt đầu trường kỳ kháng chiến, giành độc lập cho dân tộc.

Hậu cần là vấn đề tiên quyết, nhưng quan trọng nhất vẫn là chiến thuật quân sự. Và “đánh nhanh, thắng nhanh” trong thời gian 3 đêm 2 ngày là phương án tối ưu cho những khó khăn ta có thể gặp phải trong chiến dịch quan trọng này. Ngày quyết định để tấn công vào tập đoàn cứ điểm khổng lồ của quân Pháp dự định là 20 tháng 1 năm 1954. Mọi vấn đề phải được giải quyết tốc lực và có hiệu quả nhằm chạy đua với thời gian cho kịp ngày mở màn từ vấn đề hậu cần, kéo pháo, hướng tấn công, …

Rời ngày nổ súng lần thứ nhất: Khó khăn từ việc kéo pháo vào trận địa

Đầu tháng 1 năm 1954, sau khi nhận chỉ thị “toàn quyền quyết định” từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên đường ra mặt trận. Trên suốt con đường lên Điện Biên Phủ, ông đã chứng kiến từng lớp lớp người tải hàng hóa ra mặt trận, mồ hôi nhễ nhại nhưng trên môi luôn tươi rói những nụ cười hay từng hàng dài nối tiếp nhau các đơn vị bộ đội thẳng Điện Biên tiến bước. Những đoàn ô tô vận tải, xe kéo pháo cũng rì rầm liên tục không ngừng nghỉ; số khác vẫn cặm cụi, mải miết với việc phá đá, sửa đường. Trong họ có một sự háo hức và niềm tin đến kỳ lạ. Lần đầu tiên ông được chứng kiến cảnh tượng “cả nước cùng ra trận” với một tinh thần chưa bao giờ có.

Chiếc xe chở Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí là những đơn vị cuối cùng lên Điện Biên Phủ. Một bản sơ đồ Tập đoàn cứ điểm của địch với những vị trí dày chi chít và tình hình chiến sự giữa ta và địch được Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái trình bày tỉ mỉ cho cấp trên của mình. Vấn đề khó khăn nhất lúc này là thông đường Tuần Giáo - Điện Biên và mở một con đường để kéo pháo vào các vị trí trên những triền núi xung quanh. Vấn đề mở đường di chuyển không khó, kéo pháo sẽ nan giải, thời gian để ta chuẩn bị địch quân sẽ được tăng cường, công sự sẽ được củng cố, bổ sung. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cảm thấy có điều bất ổn.

Với cách “đánh nhanh, thắng nhanh” trong 3 đêm 2 ngày đã được thông qua, ai nấy đều tỏ ra hân hoan, phấn khởi. Mọi người cho rằng nếu không đánh sớm, địch tăng cường công sự, tập đoàn cứ điểm sẽ trở nên quá mạnh và cũng lo chiến dịch kéo dài, sẽ khó giải quyết vấn đề tiếp tế trên tuyến đường từ hậu phương ra mặt trận quá xa, địch còn đánh phá quyết liệt hơn. Vậy là, mặc dù còn rất nhiều băn khoăn nhưng mệnh lệnh chiến đấu đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp triển khai, phổ biến tới từng đơn vị vào ngày 14 tháng 1 năm 1954 trên một sa bàn lớn tại hang Thẩm Púa. Các đơn vị đều nêu cao quyết tâm chiến đấu và hăng hái nhận nhiệm vụ.

Để hoàn thành việc kéo pháo, Bộ chỉ huy kéo pháo được thành lập do đồng chí Lê Trọng Tấn - Tư lệnh Đại đoàn 312 làm Chỉ huy trưởng. Trước đó chỉ trong một tháng với khẩu hiệu "Mở đường thắng lợi", bộ đội ta và thanh niên xung phong đã làm nên một việc thần kỳ. Con đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ dài 82km, trước đây chỉ rộng một mét, đã được mở rộng và sửa sang cho xe kéo pháo vào cách Điện Biên 15km. Từ đây, các khẩu pháo sẽ được kéo bằng tay vào những trận địa trên quãng đường dài 15km. Đường kéo pháo rộng 3m, chạy từ cửa rừng Nà Nham, qua đỉnh Pha Sông cao 1.150m, xuống Bản Tấu, đường Điện Biên Phủ - Lai Châu, tới Bản Nghễu, mở mới hoàn toàn. Để bảo đảm bí mật, nó phải được ngụy trang toàn bộ, không cho máy bay trinh sát phát hiện. Thời gian làm đường dự kiến trong một ngày, một đêm. Ta đã rải bộ đội suốt dọc đường, làm xong trong 20 giờ. Việc tiếp theo là đưa lựu pháo và cao xạ pháo vào vị trí bắn. Nhiệm vụ được trao cho Đại đoàn 351 và 312, dự kiến hoàn thành trong ba đêm.


(Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên GIáp và Bộ Chính trị
bàn bạc kế hoạch Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954)

Việc kéo pháo vào trận địa gian nan gấp vạn lần so với những tính toán ban đầu của Bộ Chỉ huy chiến dịch. Con đường kéo pháo khá dài, nằm trên địa hình hiểm trở, nhiều dốc cao, vực sâu, việc đưa pháo vào trận địa đúng thời gian dự kiến là rất khó, việc tiếp đạn khi chiến đấu cũng sẽ rất khó khăn. Những khẩu pháo nặng hơn hai tấn ì ạch nhích từng chút qua những đoạn đường rừng núi hiểm trở, có dốc độ nghiêng lên đến 60 độ trong những điều kiện bị bắn phá ác liệt bởi máy bay địch. Trước đó xe chở pháo chỉ dừng ở cửa rừng Nà Nham đề phòng địch nghe thấy động cơ, phát hiện được. Sau bảy đêm, nhiều pháo vẫn chưa tới được nơi quy định. Thời gian nổ súng được lui lại năm ngày đến 25 tháng 1, ta sẽ có thêm thời gian chuẩn bị.

Rời ngày nổ súng lần thứ hai: Những diễn biến bất ngờ

Để giảm bớt thời gian kéo pháo bằng tay, Bộ Chỉ huy kéo pháo đã có quyết định khá táo bạo, cho Đại đoàn 351 dùng xe ô tô đưa pháo vào khu vực Nà Ten, Nà Hy sẽ giảm khoảng ba đêm kéo pháo.

Thời gian dự định nổ súng là 17 giờ 30 phút ngày 25 tháng 1 năm 1954. Trước đó Navarre đã cho phân tán một lực lượng quân cơ động đánh vào Phú Yên, về cơ bản sẽ có lợi cho ta. Địch đã phân tán lực lượng vào các chiến trường phối hợp trong cả nước, ta sẽ thừa cơ làm tiêu hao sinh lực của chúng, giảm bớt ghánh nặng cho bộ đội ở Điện Biên Phủ, thừa cơ tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm.

Đến ngày nổ súng, một lần nữa quyết định ngày mở màn chiến dịch được lui lại 24 giờ sau khi bộ phận kỹ thuật của ta nghe địch thông báo cho nhau qua điện đài về ngày giờ tiến công của Việt Minh. Những tài liệu của phương Tây sau này cho biết địch nắm được thời gian nổ súng của ta là do thu được một số bức điện của cơ quan cung cấp mặt trận. Đây là những diễn biến ngoài dự kiến.

Rời ngày nổ súng lần thứ ba: Quyết định làm thay đổi lịch sử

Sau nhiều ngày đêm chật vật, tới gần ngày nổ súng, những khẩu pháo cũng bắt đầu xích lại gần hơn tới vị trí chiến đấu. Tuy nhiên “Pháo của ta đều đặt trên trận địa dã chiến, địa hình rất trống trải, nếu bị phản pháo, hoặc máy bay đánh phá sẽ khó tránh tổn thất”, đồng chí Phạm Kiệt, Cục phó Cục Bảo vệ là người đầu tiên và cũng là người duy nhất nhận thấy khó khăn này báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Những trăn trở của vị Tổng Tư lệnh về phương án tác chiến ngày càng tăng, tuy nhiên việc thay đổi lại tình hình trong điều kiện lúc này là khó có thể thực hiện được.


(Khẩu đội của đại đội 806 – đóng tại bản Na Lơi – Điện Biên Phủ năm 1954
đã làm hầm kéo pháo trước khi chiến dịch Điện Biên Phủ nổ súng.)

Thêm vào đó, từ khi giao nhiệm vụ cho các đơn vị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không ngừng suy nghĩ, cân nhắc về khả năng thắng bại của ta. So sánh lực lượng giữa ta và địch đã có nhiều thay đổi về căn bản, địch có những ưu thế vượt trội. Trong khi Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ngày càng được củng cố bởi các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ thì ta gặp phải rất nhiều khó khăn về việc đưa pháo vào trận địa và khả năng tác chiến tối ưu của những loại vũ khí này. Ý chí chiến đấu, tinh thần đoàn kết ta có thừa, sẽ là sức mạnh tinh thần vô giá của quân ta tuy nhiên từng ấy là chưa đủ để phủ nhận những hạn chế mà quân ta sẽ gặp phải khi mạo hiểm “Đánh nhanh, thắng nhanh” lúc này. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định ba khó khăn hiện lên rất rõ.

Thứ nhất: Bộ đội chủ lực ta đến nay chỉ tiêu diệt cao nhất là tiểu đoàn địch tăng cường, có công sự vững chắc ở Nghĩa Lộ. Ở Nà Sản, chúng ta mới đánh vào vị trí tiểu đoàn, dưới tiểu đoàn, công sự dã chiến nằm trong tập đoàn cứ điểm, vẫn có những trận không thành công, bộ đội thương vong nhiều.

Thứ hai: Trận này tuy ta không có máy bay, xe tăng, nhưng đánh hiệp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu, mà lại chưa qua diễn tập. Vừa qua, có trung đoàn trưởng xin trả lại pháo vì không biết phối hợp thế nào!

Thứ ba: Bộ đội ta từ trước tới nay mới chỉ quen tác chiến ban đêm, ở những địa hình dễ ẩn náu. Chủ lực ta chưa có kinh nghiệm công kiên ban ngày trên trận địa bằng phẳng, với một kẻ địch có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng. Trận đánh sẽ diễn ra trên một cánh đồng dài 15km và rộng 6 - 7km... Tất cả mọi khó khăn đó đều chưa được bàn bạc kỹ và tìm cách khắc phục. Nhưng giải quyết ra sao? Pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xuất phát xung phong. Quyết định hoãn trận đánh một lần nữa sẽ tác động tới tinh thần bộ đội như thế nào...?


(Đại tướng Võ Nguyên Giáp quan sát tình hình mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954)

Bằng con mắt của một vị Tổng Chỉ huy gánh trên mình trọng trách nặng nề về sự thành bại và độc lập của cả dân tộc; lời Bác dặn “chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh” và Nghị quyết Trung ương hồi đầu năm “chỉ được thắng, không được bại, vì bại là hết vốn” đã đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp có “quyết định quan trọng nhất trong cuộc đời cầm quân” của mình. Phương án “Đánh nhanh, thắng nhanh” trong 3 đêm 2 ngày được chuyển sang phương án “Đánh chắc, tiến chắc”. Cuộc họp Đảng ủy diễn ra ngay trước giờ nổ súng để thống nhất phương án mới gây bất ngờ cho những người tham gia ngoại trừ Đoàn cố vấn Trung Quốc đã được bàn bạc từ trước. Mặc dù còn nhiều băn khoăn những quyết sách mới vẫn được thông qua. Mọi vấn đề có liên quan sẽ được chuẩn bị lại theo phương án mới. Bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới.

Quyết định chuyển sang phương châm Đánh chắc, tiến chắc” khi được cấp tốc báo về Trung ương ở an toàn khu Việt Bắc, đã được Hồ Chủ tịch cùng với đồng chí Trường Chinh và Bộ Chính trị nhất trí tán thành.

Sau này Đại tướng Võ Nguyên Giáp có viết trong cuốn Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử “Đó là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của tôi”. Những nhà nghiên cứu lịch sử, người trong cuộc cũng phải thừa nhận việc thay đổi phương châm là yếu tố quyết định dẫn tới thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ sau này. Nếu ngày đó không hoãn ngày nổ súng, thay đổi phương châm thì cuộc chiến có lẽ sẽ kéo dài thêm 10, 20 năm nữa.

Rời ngày nổ súng lần thứ tư: Sự thận trọng lắng nghe cấp dưới của Bộ Chỉ huy chiến dịch

Ngày nổ súng được quyết định vào ngày 11/3. Him Lam sẽ là cứ điểm được chọn để tấn công đầu tiên từ hướng Đông Bắc của Tập đoàn cứ điểm. Hai tiểu đoàn 11 và 428 thuộc Trung đoàn 141 (là đơn vị chủ công đánh Him Lam ngay trong đợt đầu tiên này) được giao nhiệm vụ đánh vào hai vị trí khác nhau. Tuy nhiên giữa hai vị trí đó còn có một con đường mòn, mà cuộc họp Đảng ủy Trung đoàn trước giờ nổ súng không ai nhớ tới con đường đó. Đồng chí Hà Văn Nọa là người duy nhất phát hiện ra điều này và đã báo cáo chỉ huy của mình khi được phổ biến nhiệm vụ.

Ngày nổ súng lại hoãn thêm hai ngày để trinh sát, kiểm tra những nghi vấn của đồng chí Nọa. Kết quả phát hiện của anh Nọa hoàn toàn đúng. Ngày 13 tháng 3 ta nổ súng tấn công vào cứ điểm Him Lam theo phương án đã sửa. Chỉ sau hơn 5 giờ đồng hồ ta đã nhanh chóng tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm này, bắt sống và tiêu diệt hơn 500 lính, thu nhiều vũ khí, đạn được.

Nếu không phát hiện ra sai lầm này mà cứ đánh theo phương án cũ, nổ súng ngày 11 tháng 3 thì hai Tiểu đoàn 428 và 11 sẽ cùng đánh vào một cứ điểm chỉ có một đại đội địch. Còn tiểu đoàn bộ Pégot với pháo binh và hai đại đội Lê dương không bị đánh, lại ở ngay cạnh, chắc chắn sẽ không để ta yên. Đó là chưa kể khả năng quân ta đánh vào nhau, vì đêm đó không sao phân biệt được. Điều đó càng chứng tỏ sự linh hoạt, tôn trọng và biết lắng nghe ý kiến cấp dưới của người chỉ huy, góp phần làm nên chiến thắng chung của cả một dân tộc.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là sự tổng hòa của nhiều nhân tố. Không thể phủ nhận những yếu tố khách quan mang lại góp phần làm nên thành công chung thì yếu tố quan trọng nhất vẫn là sự lãnh đạo, chỉ huy tài tình, sáng suốt của người cầm quân. Trong trận đánh này, vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là bất tận, vào những thời điểm quan trọng ông đã có những quyết định quan trọng, vào những lúc cần thiết, ông đã có sự lãnh đạo cần thiết với vai trò “toàn quyền quyết định”. Và thực tế lịch sử đã chứng minh, hơn ai hết Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người mà một trận đánh quan trọng như ở Điện Biên Phủ cần phải có./.

Hồng Nhung

Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

( Hình ảnh mang tính minh họa)
 

Bình luận (0)