Vàm Cỏ Đông -Hoài Vũ-Trương Quang Lục

Ở tận sông Hồng em có biết
Quê hương anh cũng có dòng sông
 Anh mãi gọi với lòng tha thiết Vàm Cỏ Đông , ơi Vàm Cỏ Đông

Nhạc sĩ Trương Quang Lục.

Ông sinh ngày 25 tháng 2 năm 1933, quê tại xã Tịnh Khê (Sơn Mỹ), huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Là hội viên hội Nhạc sĩ VN, đồng thời là hội viên hội Nhà báo VN.

Trong kháng chiến chống Pháp, Trương Quang lục đã có một số bài hát được phổ biến như: Chuyến tàu trăng, Bảo vệ hòa bình, Đố cờ, Hoa bên suối. Sau hòa bình, ông chuyển ra miền Bắc vừa làm kỹ sư hóa chất ở nhà máy Super - Phosphate Lâm Thao, ông vừa sáng tác ca khúc và nhiều tác phẩm ra đời ở đó.

Nhạc sĩ Trương Quang Lục sáng tác từ năm 15 tuổi, sau đó năm 1954 ông tập kết ra Bắc, lìa xa con sông Trà Khúc màu mỡ hiền hòa (Quảng Ngãi) nơi ông sinh ra và lớn lên. Nhiều ca khúc của ông được phổ biến: Hoa sen Tháp Mười, Trái đất này là của chúng em (thơ Đình Hải), Lời tỏ tình trên đảo Ông Đen …        

Hoàn cảnh sáng tác bài hát Vàm Cỏ Đông:

Một đêm khuya mùa hè năm 1966, vào thời kỳ không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc, từ Nhà máy Super photphat Lâm Thao- nơi đang công tác- trở về nơi ở, ông chợt nghe trong buổi Tiếng thơ của Đài tiếng nói VN giọng của ai đó đang ngâm bài thơ Vàm Cỏ Đông của nhà thơ Hoài Vũ từ miền Nam gửi ra, lời thơ và giọng ngâm thật tha thiết. Ông xúc động, miên man suy nghĩ.

Lên giường nằm, trước khi ngủ ông giở tờ báo Văn Nghệ vừa mới nhận được lúc chiều, lại chợt thấy đăng bài thơ Vàm Cỏ Đông. Thế là ông ngồi bật dậy, Đọc đi đọc lại, ông vừa đồng cảm lại vừa tâm đắc vì ở tận phương Bắc xa xôi lại có người gợi lên một dòng sông xanh mát quanh năm ở tận miền Nam với tất cả tấm lòng tha thiết, thủy chung cùng ý chí kiên cường chống giặc...

  

Ơ .. ơi Vàm Cỏ Đông , ơi hỡi dòng sông
Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng
Đuổi Pháp đi rồi nay đuổi Mĩ xâm lăng
Giặc đi đời giặc sông càng xanh trong
Giặc đi đời giặc sông càng xanh trong

Và ngay trong đêm hôm ấy với cây đàn trên tay, ông nắn nót từng cung bậc. Chỉ sau hơn một tiếng đồng hồ, ca khúc Vàm Cỏ Đông đã hoàn thành :Ở tận sông Hồng em có biết, quê hương anh cũng có dòng sông, anh mãi gọi với lòng tha thiết, Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông... .Trong chiến tranh Việt Nam, đây cũng là nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt.

Sông này nổi tiếng với  hai bài hát là bài "Vàm Cỏ Đông" (sáng tác: Trương Quang Lục, thơ: Hoài Vũ), "Lên ngàn" (sáng tác: Hoàng Việt). Bằng những giai điệu tiết tấu dịu dàng thắm thiết, bài hát Vàm Cỏ Đông đã đi vào lòng người cho đến tận hôm nay

Có một chuyện nhỏ khi tôi ra Hà Nội dự Đại hội nhạc sỹ Việt Nam lần  VIII (tháng 7/2010) trong lúc trò chuyện ông nói thoạt đầu tính dành bài hát cho Tây Ninh vì  cũng gắn bó tình cảm nhiều,ông  thường lên làm giám khảo cuộc thi Hoa phượng đỏ và hơn nữa dòng Vàm Cỏ Đông chảy qua tỉnh Tây Ninh rất dài khoảng 150 km ( qua 4 huyện Châu Thành,Hòa Thành,Gò Dầu  và Trảng Bàng).

Ơ ơi Vàm Cỏ Đông ơi hỡi dòng sông Có anh du kích dũng cảm kiên cường Lẩn ánh trăng mờ băng lửa đạn qua sông Diệt tan tàu giặc giữ gìn quê hương

Nơi đây là vùng kháng chiến nổi tiếng Miền Nam mà cả nước biết đến,nhưng rồi lâu quá không nghe ai đề nghị hay quan tâm gì cả nên sau nầy Long An lấy làm nhạc hiệu Đài PT TH  và sau đó tác giả ca khúc "Vàm Cỏ Đông" cũng đã được nhận Giải thưởng Nguyễn Thông lần thứ III vào ngày 7.12.2009. Cùng nhận giải lần này còn có nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu với bài hát nổi tiếng "Anh ở đầu sông em cuối sông" viết về Long An (cũng dựa vào bài thơ cùng tên của nhà thơ Hoài Vũ).

Đã gần đến tuổi bát tuần  mà ông vẫn sống lạc quan, hạnh phúc và tiếp tục cho ra lò những ca khúc mới.Ngoài ra nhạc sỹ Trương Quang Lục  còn tham gia viết nhiều nhạc phim, nhạc sân khấu, múa rối, một số bài nghiên cứu dân ca,và ông phụ trách chuyên mục giới thiệu những ca khúc mới trên báo Sài Gòn giải phóng Chủ nhật

Nguyễn  Quốc Đôn

                              

Nhà thơ:Hoài Vũ

Nhà thơ Hoài Vũ với bài Vàm Cỏ Đông được nhạc sĩ Trương Quang Lục phổ nhạc trở thành tác phẩm nổi tiếng thì ai cũng biết. Nhưng chuyện Hoài Vũ có mối tình lãng mạn ở Long An thì chỉ những người đã có mặt ở đây vào những năm đánh Mỹ ác liệt mới biết rõ.

Năm 1968, Hoài Vũ được Hội Văn nghệ giải phóng cử xuống Long An, vừa đi thực tế sáng tác, vừa mở lớp đào tạo những cây bút trẻ. Trong lớp ấy có Bẩy Nhàn, một nữ sinh viên hoạt động hăng hái trong phong trào đấu tranh ở thành thị, mới được đưa ra hậu cứ. Khác với các bạn cùng trang lứa, Bẩy Nhàn nổi trội hơn ở dáng người thon thả, giọng nói trong trẻo và có vốn kiến thức văn học. Bẩy Nhàn tiếp thu rất nhanh những bài giảng của thầy Hoài Vũ. Chưa hết khóa học, Bẩy Nhàn đã có tác phẩm đầu tay. Đó là truyện “Làng ven sông” đã được đăng trên tạp chí Văn nghệ giải phóng. Hoài Vũ rất nhiệt tình chỉ bảo về nghiệp vụ báo chí, thơ văn cho Bẩy Nhàn. Ngược lại Bẩy Nhàn cũng tận tâm săn sóc giúp đỡ những lần Hoài Vũ bị sốt rét như một người em gái. Bẩy Nhàn rất quý trọng Hoài Vũ, một người thầy, một người anh kính mến. Còn tình cảm của Hoài Vũ đã vượt qua ranh giới đó.

Thế rồi, chiến trường Long An ngày càng ác liệt. Hoài Vũ nhận được lệnh phải về R. Hai người sống trong xa cách. Ít lâu sau, Hoài Vũ sáng tác bài “Anh ở đầu sông, em cuối sông” (nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc) thể hiện tình cảm rất tha thiết: ...Anh ở đầu sông, em cuối sông/ Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông/ Thương nhau đã chín ba mùa lúa/ Chưa ngày gặp lại nhớ mênh mông. Yêu người, Hoài Vũ yêu luôn cả cảnh vật miền quê của Bẩy Nhàn: Ôi bát ngát chân trời miền Hạ/ Tím tình yêu, tím cả ước mong...

Sự nuối tiếc, xót xa còn được thể hiện trong bài “Đi trong hương tràm”: Dù trái tim em không trao anh nữa/ Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau.

 

Vàm Cỏ Đông đây Vàm Cỏ Đông đây
Ta quyết giữ từng mái nhà tấm lưới cây dầm
Từng thửa ruộng ngời đen màu mỡ
Từng mối tình hò hẹn sớm trưa

Năm 1972, tôi về công tác ở Văn phòng Ban Tuyên huấn Long An. Để đối phó với dịch càn quét, tôi được lệnh sắp xếp lại giấy tờ, tài liệu, thứ gì không cần thiết nữa thì hủy, thứ gì thiết yếu phải mang theo. Bất ngờ tôi thấy một bức thư của Hoài Vũ gửi cho anh Chín Cần, Bí thư Tỉnh ủy. Thời gian đi thực tế ở Long An, Hoài Vũ được anh Chín rất quý mến. Hoài Vũ rất mong muốn anh Chín vun đắp cho mối tình của hai người. Vì thế Hoài Vũ vẫn không quên anh Chín. Lá thư gửi cho anh Chín, nhưng anh đi công tác vắng. Được phép của Ban Thường trực, tôi bóc thư. Trong thư, ngoài lá thư thăm hỏi là bài thơ “Nàng thơm” rất đặc sắc. Nội dung kể lại mối tình rất cảm động của đôi trai gái quê mùa. Cô gái thương chàng trai nghèo khổ, hằng ngày vất vả lam lũ cấy cày mà vẫn đói rách. Đêm đêm cô gái lặng lẽ ra ruộng dùng nước mắt của mình nhỏ xuống, mỗi cây lúa một giọt khiến ruộng lúa của chàng xanh tốt trở lại. Lạ kỳ thay, từ lúc trổ bông đến khi thành gạo nấu thành cơm đều rất thơm. Người ta không quên đặt luôn tên của cô gái cho loại lúa đó. Nó cũng cắt nghĩa nguồn gốc của giống lúa Nàng Thơm đang cấy trồng ở Long An và hạt gạo Chợ Đào - một đặc sản được xuất khẩu rất có giá trị trên thị trường.

Bài thơ Nàng Thơm, mở đầu bằng hai câu: Nàng Thơm tên lúa hay tên em/ Nghe dịu tâm hồn ngọt gió đêm... Tôi thấy bài thơ hay quá nên đã dụng công chuyển thành bài ca vọng cổ. Tiếc rằng chưa kịp đưa sang bên Tiểu ban văn nghệ dàn dựng thì tôi đã trở ra Bắc.

Đọc bài thơ Nàng Thơm của Hoài Vũ ai cũng biết anh muốn giãi bày tình cảm yêu thương của mình với miền quê Long An và người con gái miền hạ. Bài thơ này phải được đến tay Bẩy Nhàn. Nhưng rất tiếc Bẩy Nhàn không còn ở hậu cứ nữa, đã xuống đường nhận nhiệm vụ quan trọng, phát động quần chúng ở một địa bàn đang tranh chấp quyết liệt giữa ta với địch. Chỉ ít ngày sau đó, Bẩy Nhàn không may sa vào ổ phục kích của địch và bị chúng bắt đầy ra đảo Phú Quốc. Cái tin đau buồn này đã đến tai Hoài Vũ. Anh viết ngay bài thơ: “Gửi người bạn gái trong tù”. Bài thơ này đã được phát sóng trên Đài Phát thanh Hà Nội.

...Tuy mối tình dang dở, nhưng Hoài Vũ đã để lại cho văn đàn nhiều bài thơ tình rất hay và miền quê Long An với sông Vàm Cỏ, gạo Nàng Thơm, cá bống Kèo đã trở thành nổi tiếng với đồng bào cả nước.

(ST)


Bình luận (0)